*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng quên mất email kích hoạt tài khoản?
Tháng Sáu 28, 2017, 10:24:33 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: [1] 2 3 ... 10
 1 
 vào lúc: Tháng Mười Một 15, 2016, 09:44:50 AM 
Tác giả Admin - Bài mới nhất gửi bởi Admin
Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai Minh ĐĐTKPĐ
Năm Đạo Thứ 92.

Kính thưa: Quí vị Ðại Diện các Tôn Giáo trong HÐLT Việt Nam tại H/K
           Quí vị Lãnh Ðạo tinh thần các Tôn giáo bạn.
           Quí vị Dân Cử Ðại Diện Chánh Quyền các cấp.
           Quí vị Lãnh Ðạo các Hiệp Hội, Ðoàn Thể, Cơ Quan, Truyền Thông, Báo Chí, Quí Thân Hào nhân sĩ.          
           Quí Chức Sắc, Chức Việc, Quí vị hiền Tài Ban Thế Đạo cùng quí Ðồng đạo và Ðồng hương.

Hôm nay nhân Lễ Kỷ Niệm ngày Khai Minh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ năm đạo thứ 92. Chúng tôi xin được trình bày đôi nét về nền Đại Đạo theo trình tự như sau:

- Tại sao Đức Chí Tôn khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ?
- Tôn chỉ và mục đích.
- Nền tảng triết lý Đại Đạo.

- Tại sao Đức Chí Tôn khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ?
Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đê dạy: Khi tạo dựng nên vũ trụ và vạn hữu chúng sinh, trong đó có loài người, Ngài đã ban cho đầy đủ cả hai phần thể chất và tâm linh. Sự tạo dựng của Thượng Đế hoàn hảo tốt đẹp ngay từ ban đầu, để chúng sinh học hỏi tiến hóa trở về với Ngài, nhưng khi nhập thế con người lại mê luyến hồng trần, tạo nhiều tội lỗi nên phải gánh lấy nhân quả trầm luân.
Đức Thượng Đế vì thương xót chúng sanh nên Ngài đã ban ơn cứu độ bằng cách cho các Đấng Thiêng Liêng giáng trần mở Đạo sao cho thích hợp với trình độ tiến hóa và phong tục tập quán của từng nơi, từng lúc để chúng sanh dễ bề tiếp nhận, hầu giáo hóa trở về với Ngài, đó là lý do các tôn giáo được khai sáng từ trước đến nay.
Ngày nay Đức Thượng Đế cho rằng: nhân loại đã giao lưu rộng rãi với nhau, thế giới xem như một làng mạt nhỏ bé. Bởi thế con người không còn sống biệt lập với nền văn minh bản địa của mình, cho nên dù muốn hay không, tất cả con người cũng phải sống trong sự liên kết toàn cầu, nhưng về phương diện tín ngưỡng lại đóng khung trong tôn giáo của mình đã tôn thờ.     
Do sự khác biệt về giáo điều, về giáo lý, về giáo luật của mỗi Tôn giáo, mà nhân loại chống đối lẫn nhau, riêng đối với những phần tử cực đoan thì sự chống đối này lại càng trở nên ác liệt. Lại thêm ngày nay nền văn minh vật chất càng tiến bộ, vũ khí giết người lại tối tân, nhưng phần tâm linh lại ngày càng sa sút, do đó nhân loại đã tiến dần đến chỗ tự diệt vong.
Không nỡ nhìn con người sa vào tội lỗi mà phải bị mạt kiếp chốn A tỳ, nên Đức Thượng Đế mới giáng trần dùng huyền diệu Tiên gia giáng cơ giáo đạo, khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại tỉnh Tây Ninh miền nam Việt Nam, đem đến cho dân tộc Việt Nam và cả nhơn loại trên thế giới một giáo thuyết "Nhơn Nghĩa Ðại Ðồng" làm nô nức, qui tụ hằng mấy triệu tín hữu đang sùng kính và tạo dựng nền móng "Thương Yêu và Công Chánh" cho thế hệ hiện hữu.
- Tôn chỉ và Mục đích.
Ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (1926). Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nền đạo do Đức Thượng Đế mà người tín đồ Cao Đài gọi là Đức Chí Tôn khai mở bắt đầu truyền bá công khai với tôn chỉ: Tam Giáo Qui Nguyên - Ngũ Chi Phục Nhứt.   
Tại sao lại Qui nguyên Tam giáo Hiệp nhứt Ngũ chi ?
Thánh Ngôn Đức Chí Tôn dạy: Vốn từ trước, Thầy lập Ngũ Chi Đại Đạo: là Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo Tiên Đạo, Phật Đạo. Tùy theo phong hóa của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn Vô Đắc Khán ( không thấy được Trời ), Khôn Vô Đắc Duyệt (không biết hết được Đất) thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương của mình mà thôi. Còn nay, nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn Dĩ Tận Thức ( đã hiểu được Trời Đất ) thì bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định Qui Nguyên, Phục Nhứt. ( Trích Thánh ngôn hiệp tuyển)
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ với tôn chỉ "Qui Nguyên Phục Nhứt" là thừa nhận mọi tôn giáo đều do một gốc mà ra, có đồng một chơn lý, đồng tôn sùng một Ðấng Chúa Tể càn khôn vũ trụ là Ðức Ngọc Hoàng Thượng Đế.            
Giáo lý Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là Đại đồng nhơn loại có mục đích điều hòa tất cả mọi tín ngưỡng, lấy triết lý của Nho - Thích - Đạo  làm căn bản.   
Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc dạy về Tam Giáo và Ngũ chi như sau:
Tam giáo! Ai sanh dưới thế nầy cũng phải giữ đủ Tôn chỉ của ba Đạo: là Nhơn đạo, Tiên đạo, Phật đạo mới làm đặng hoàn toàn phận sự của con người. Ngày nay nhân loại đã tấn hóa cao, đã có một xã hội văn minh khoa học vật chất cực thịnh, nhưng càng văn minh khoa học, con người lại xa dần thánh đức tàn sát lẫn nhau, muốn cho nền văn minh nhân loại được hoàn hảo, cả vật chất lẫn tinh thần, thì con người phải tuân thủ theo ba tôn chỉ đó là Nhơn đạo, Tiên đạo, Phật đạo.
Con người phải tùng theo Nhơn đạo, tu luyện bản thân giữ gìn nhơn phẩm, để có một đời sống thanh cao, một gia đình thuận hòa.
Trong khi con người phải làm tròn Nhơn đạo, thì đồng thời cũng phải theo Tiên đạo tu luyện Tinh, Khí, Thần, để được thông minh sáng suốt, hầu nâng cao kiến thức, phát triễn khoa học kỷ thuật nhằm phục vụ cho đời sống con người, cho con người trở nên văn minh tiến bộ, đó là tôn chỉ của Tiên đạo.
Trong khi con người lo phát triển khoa học kỷ thuật, kiến tạo một xã hội văn minh, thì cũng phải tùng theo tôn chỉ của Phật đạo là từ bi bác ái, là chỉ dùng khoa học kỷ thuật để phục vụ cho đời sống vật chất lẫn tinh thần, của cá nhân cũng như cộng đồng, chứ không nên dùng khoa học kỷ thuật ấy trở lại hại nhơn sanh.            
Ngũ Chi Phục Nhứt ! Thầy hiệp Ngũ chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác nào một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị mình, hể ngồi đặng ở phẩm vị nào, thì địa vị mình ở nơi ấy.   
Ngũ chi có Năm cấp, lấy trần gian làm cơ sở, lấy sinh hoạt của con người làm đối tượng, lấy cảnh khổ của trường đời, và sự thương yêu sanh chúng để làm bài học và khoa mục khảo thí. Bài học khổ hạnh thương đời yêu người nầy, tùy theo sự tu học của con người  mà có cách ứng dụng khác nhau.
Phật, vì thương đời mà tìm cơ giải khổ.
Tiên, vì thương đời mà bày cơ thoát khổ.
Thánh, vì thương đời mà dạy cơ thọ khổ.
Thần, vì thương đời mà lập cơ thắng khổ.
Hiền, vì thương đời mà đạt cơ tùng khổ.
Chữ khổ là đề mục của khoa học trên trường đời, mà phẩm vị Hiền, Thần, Thánh, Tiên, Phật, là ngôi vị của trang đắc cử.
Tóm lại, Tôn chỉ của đạo Cao Đài là đường lối tổng hợp nhất quán cứu cánh hoàn thiện và giải thoát nhân sinh của vạn giáo. Từ đó Đạo Cao Đài chủ trương tôn trọng tín ngưỡng của mọi tôn giáo và nêu lên nguyên lý chung của mọi nền giáo lý tức là giáo lý Đại Đạo.
- Nền tảng Triết lý Đại Đạo.
Triết lý Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có hai phần: Thiên đạo giải thoát và Thế đạo đại đồng!
Chúng tôi xin tóm gọn như sau:
Thế đạo đại đồng, Đạo Cao Đài nhằm hoàn thiện hóa con người kiến tạo cuộc sống an bình tiến bộ trong xã hội, lấy Nhân Bản làm nền tảng, trong đó nhân vị nhân quyền được tôn trọng, nhân tính được phát huy để xây dựng một thế giới nhân loại hòa bình, văn minh, đạo đức bình đẳng không phân biệt giai cấp.
Đạo Cao Đài thực thi chính sách:
Bảo Sanh - Nhơn Nghĩa - Đại Đồng.
Bảo sanh có hai phần: phần một lo cho lối sống cơm no, áo ấm cho nhơn sanh, phần khác là bảo vệ tính mạng không để người khác xâm phạm, khi con người có ăn, có mặc rồi mới dạy lễ nghĩa, đạo lý được. Vì vậy, điều cần yếu mà Đức Chí Tôn dạy, không phải xây Thánh Thất cho nhiều mà phải lo lập trường học, viện dưỡng lão, viện mồ côi, lo cứu tế, phổ tế để giảm thiểu nỗi khổ đau của nhân loại.
Ðó là mục đích mà Thượng Ðế muốn cho nhơn loại hiểu tận ý hành tận sự, chớ giáo lý Cao Ðài không nhất thiết chỉ bảo người đời đi tìm hạnh phúc trong cõi hư vô vĩnh cửu nơi chốn niết bàn cực lạc. Trong khi thân sanh còn nghèo đói bệnh tật, dốt nát, chia rẽ, người bóc lột người trong cảnh mạnh được yếu thua, bất công xã hội. Nếu phần thân sanh hiện hữu như thế, thì chắc gì phần tâm linh được mẫn tuệ siêu thoát.
Thiên đạo giải thoát! Thiên đạo là Đạo pháp, là Bí pháp tu luyện để đạt được sự giải thoát toàn diện, không còn đau khổ phần thể xác hay phiền não tâm hồn ngay tại thế gian, và xa hơn nữa sau khi thoát xác, linh hồn người đắc quả sẽ về sống vĩnh viễn trên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống không còn bị luân hồi trở lại phàm trần nữa.
Muốn thế, người tu Thiên đạo phải học đạo, tu luyện Tinh Khí Thần, phải thương yêu sanh chúng và thực hành sứ mạng Phổ Độ Chúng Sanh.
Đức Thượng Đế cho biết: ngày xưa nhơn loại giao cảm với Ngài, gián tiếp qua các Sứ giả của Ngài, ngày nay Ngài khẳng định rằng: chính Ngài đến thế gian như các tiên khải lưu truyền trước đây, để lập một trường công đức cho con cái của Ngài tu học. Trường công đức nầy là mái nhà chung đó là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để hợp nhất con cái của Ngài.
Chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào Ðấng Tối Cao là Ðấng Thượng Đế Toàn Năng, mà cũng là Đức Ðại Từ Phụ đã giáng trần lập nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Tôn giáo nầy có thể canh tân toàn thể nhơn loại trên thế giới bằng một lý tưởng cao quí, đó là Tình Thương và Công Chánh. Rồi đây, bởi sự chuyển xây của Thượng Đế, khiến cho các sắc dân trên thế giới sẽ đồng tâm hiệp lực, kết tình anh em với nhau, và chừng ấy nền Hòa Bình Thế Giới sẽ thành hiện thực.
Nhận lãnh trách nhiệm nơi Ðức Thượng Đế, chúng tôi có sứ mạng truyền bá nền chánh giáo của Ngài đến khắp hoàn cầu, chúng tôi tin tưởng mãnh liệt vào hiệu năng của nền Tân Tôn giáo nầy, và hoàn toàn vững tin nơi thiện ý của mình, chúng tôi quả quyết không có gì lầm lẫn trong sứ mạng ấy.
Ðặt mình vào bổn phận, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi toàn thể nhơn loại trên thế giới hiểu biết việc làm của chúng tôi, để mọi người hiểu rằng: Giờ Ðại Xá của Ðức Thượng Đế đã điểm, và sự thống hợp của con cái Ngài là để phụng sự cho hòa bình hơn là tiếp tục tìm kiếm kế hoạch thống trị thế giới. ( Trích lời Đức Quyền Giáo Tông trong tờ khai đạo)
Nói tóm lại, Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một Tôn giáo được Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế khai mở lần thứ ba tại miền nam Việt Nam với Tôn chỉ Tam giáo Qui nguyên Ngũ chi Phục nhứt, để cứu rỗi tất cả nhơn loại trên địa cấu này, không phân biệt màu da sắc tóc, không phân biệt tôn giáo dị đồng, vì trước Đức Thượng Đế, cả chúng sanh đều là con một Cha, đều được Đại Từ Phụ cứu rỗi như nhau.
Ngài kêu gọi nhơn loại hãy thương yêu nhau, hãy sống và đối xử với nhau bằng Tình Thương và Công Chánh, vì chỉ có Tình Thương và Công Chánh mới đem lại cho Thế giới một nền Hòa bình - Dân Chủ - Tự Do thật sự, thế giới mà người Cao Đài gọi là đời Thánh Đức.    
Với Tôn chỉ và mục đích như trên, chúng tôi có thể nói, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một mối Đạo cho tất cả mọi người, là một đường đi chung của tất cả mọi người, từ nền tảng nầy, người tín đồ Cao Đài luôn coi tôn giáo của mình là tôn giáo của mọi người, và tôn giáo của mọi người như tôn giáo của mình, mình là tha nhân, tha nhân là mình, bởi vì con người không thể đơn lẽ trong cuộc sống, mà phải là một sự liên kết hài hòa, Đại Đạo chính là sự liên kết đó là mối liên kết giữa những phần tử của một nguồn gốc duy nhứt.                
Ngày nào nhơn loại cùng hướng về một đức tin duy nhứt ở một đấng Thượng Đế tối cao, khi đó con người sẽ tiến đến một Cộng đồng nhơn loại Thái bình, Thịnh vượng và Hạnh phúc.                     
Xin nguyện cầu Ơn Trên Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu các Ðấng Thiêng Liêng ban nhiều ân lành đến cho tất cả quí vị.

Chánh Trị Sự Hà Vũ Băng                     




 2 
 vào lúc: Tháng Mười Một 06, 2016, 10:26:20 PM 
Tác giả Admin - Bài mới nhất gửi bởi Admin
Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai Minh ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ - NĂM ĐẠO THỨ 92 -
Ngày Chủ Nhựt 13-11-2016 (14-tháng 10 Bính Thân)

      CHƯƠNG TRÌNH

09:00 Khai Mạc   
        - Chào cờ Việt, Mỹ và Đạo Kỳ
        - Phút mặc niệm
        - Giới thiệu thành phần quan Khách
        - Đoàn lân chào mừng quan khách   
10;10: Diễn văn Khai mạc
        -Ý nghĩa Ngày Khai Đạo
        - Họp ca Mừng ngày Khai Đạo
        - Phát biểu các Tộc Đạo
11:20: Phát biểu của Hội Đồng Liên Tôn
        - Phát biểu của các vị Dân cử
        - Lời cảm tạ của Ban Tổ chức
12:00: Tiệc chay thân mật
        - Văn nghệ giúp vui
        - Bế mạc

 3 
 vào lúc: Tháng Chín 09, 2016, 03:45:40 PM 
Tác giả KhamPham - Bài mới nhất gửi bởi KhamPham
Ba điều HẠNH PHÚC nhất?


Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày.

Thấy lạ, có người hỏi:
- Tại sao ông vui tươi mãi như thế?

Ông lão đáp:
-Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất, “Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người.
Ấy là điều sướng thứ nhất.

-Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn,
ấy là điều sướng thứ hai

-Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa, không lo lắng gì cả. Ấy là điều sướng thứ ba

-Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai tránh được. Ta cũng như mọi người, việc gì phải buồn.

-Nghĩ tới ba điều sướng ta có được, ta vui ca cũng là chuyện thường tình, mắc mớ chi phải hỏi.

(Cổ Học Tinh Hoa)


 4 
 vào lúc: Tháng Tám 28, 2016, 08:14:00 AM 
Tác giả KhamPham - Bài mới nhất gửi bởi KhamPham




                        VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC
                             CỐ GIÁO SƯ TIẾN SĨ NGUYỄN THANH LIÊM
                     CỰU THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC GIA GIÁO DỤC VNCH

   Từ bịnh viện Kaisser miền Nam California - Hoa Kỳ, ngày 17 tháng 8 năm 2016, Gíao Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm đã vĩnh viễn từ giả chốn trần gian sau cuộc hành trình dài 84 năm, để trở về Thiên cảnh nhận quả duyên đã tạo nên.
   Nhớ lại vài năm trước đây,  qua những lần giao tiếp với GS Nguyễn Thanh Liêm trong nhiều kỳ lễ của Đạo Cao Đài và các lần họp mặt đồng hương Tây Ninh...GS đã gieo vào lòng những tín hữu Cao Đài cũng như số đông người đồng hương tỉnh Tây Ninh một mối thân tình hết sức đặc biệt...
   Ngoài ra, tại Quận Cam, GS Nguyễn Thanh Liêm cũng đã từng dấn thân hầu hết các sinh hoạt Cộng Đồng của người Việt Tị Nạn Công Sản. Với GS hiện tại chỉ còn lấy lòng chí thành và chữ nghĩa làm vũ khí góp phần đấu tranh cho quê hương VN sớm được tự do, dân chủ và nhân quyền, nhất là xây dựng lại nền Phong hóa mà tổ tiên dòng giống Lạc Hồng đã hơn 4 ngàn năm dựng nên, nay đã bị chủ nghĩa Cộng Sản Vô Thần làm sụp đổ.
   Trong chiều hướng nầy, tôi thấy GS Nguyễn Thanh Liêm ngoài việc đặt nặng đời sống đạo đức của con người,  Ông còn ra công nghiên cứu về ba nền tôn giáo lớn: Nho, Thích, Lão đã thấm nhuần vào đời sống của người dân Việt...Rồi từ đó, GS hô hào dấy lên tinh thần Tôn Sư Trong Đạo và tạo dựng nên một truyền thống hết sức tốt đẹp là hằng năm  ở hải ngoại đều có tổ chức Ngày Tôn Sư Trọng Đạo hết sức trang trọng. Đó là bài học sau cùng của một vị Gíao Sư khả kính đã để lại muôn đời cho đàn hậu tấn.
   Đặc biệt hơn, những năm tháng sau cùng của cuộc đời, Gíao Sư lại dẫn bước vào cuộc hành trình trong tôn giáo Cao Đài để nghiên cứu tôn chỉ: Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt ...do chính Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế dùng huyền diệu cơ bút truyền dạy.
   Tôi tin đây là duyên lành,là Thiên ý nên mạnh dạn mở lời mời Gíao Sư Nguyễn Thanh Liêm hợp tác thành lập Viện Nghiên Cứu Đạo Đạo Cao Đài - USA.
GS Nguyễn Thanh Liêm nở nụ cười tươi như hoa gật đầu đồng ý.
   Thế là, trong thời gian chưa tròn một năm, Viện Nghiên Cứu Đạo Cao Đài được hình thành với Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm là Viện Trưởng và được Tiễu Bang California chuẩn thuận giấy phép hoạt động.
    Bước đầu Viện Nghiên Cứu Đạo Cao Đài đã mở trang mạng:
                         daodoiquinguyen.com
và đã qui tụ hàng chục học giả là GS của những trường Đại Học trước năm 1975 cùng những người có tâm đạo...chung nhau dụng phương tiện" Văn dĩ tải Đạo" như những bậc hiền nhân xưa nay để cùng nhau thắp sáng con đường Đạo Đức mà các tôn giáo đã vạch ra hầu dẫn con người về với Chân, Thiện, Mỹ...
   Nói tóm lại, mặc dầu tuổi đời đã cao nhưng GS luôn khẳng khái nói to rằng:
         Cứ tưởng như mình tóc hãy còn xanh,
         Đầu có bạc nhưng lòng son chẳng bạc.
   Trước tinh thần phục vụ cao độ, với lý tưởng cống hiến cuộc đời cho nền Văn Hóa Việt , một hoài bảo góp phần xây dựng một xã hội nhân bản mỗi ngày mỗi thăng hoa....của Gíao Sư Nguyễn Thanh Liêm ... Từ một vị Gíao Sư, một Hiệu Trưởng, một Thứ Trưởng Bộ Quốc Gia Gíao Dục cho đến lúc về già là một  sĩ phu yêu quê hương, yêu dân tộc sống lưu vong nơi xứ người...với tinh trần trách nhiệm  đối với đất nước không bao giờ phai nhạt.Đó là điểm son sáng chói đã in sâu vào lòng của bất cứ ai đã từng nghe qua danh Gíao Sư.
   Với những tấm lòng tràn đầy ngưỡng mộ đối với Gíao Sư Nguyễn Thanh Liêm, nay Gíao Sư vĩnh viễn tử biệt cõi trần, khiến mọi người không ai khỏi bị xúc động trước cảnh ra đi của Gíao Sư:
         Ra đi đồng đạo buồn nhung nhớ,
         Vĩnh biệt đồng hương luyến tiếc thương.!!!
   Nhung nhớ và tiếc thương ! giờ đây xin được ký gởi vào mùi hương, nhang khói qua những lời cầu nguyện cho cố Gíao Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm mà những người đang hiện diện hôm nay thành tâm dâng hiến:
         Nam Mô Thượng Đế Ngọc Hoàng,
         Mở cơ tận độ nhẹ nhàng chơn linh,
         Cửa Cực Lạc thinh thinh rộng mở,
         Rước vong hồn lui trở ngôi xưa,
         Tòa Sen báu vật xin đưa,
         Chơn Linh an ngự cho vừa quả duyên.
               ( Kinh đưa Linh Cữu Cao Đài )
   Đồng thời xin thành kính phân ưu cùng tang quyến và vô cùng thương tiếc vĩnh biệt cố Gíao Sư Nguyễn Thanh Liêm.
                 Viện Nghiên Cứu Đạo Cao Đài- USD
            Toàn Ban Biên Tập Trang Mạng Đạo và Đời Qui Nguyên
               Đồng Khấn Nguyện và Thành Kính Phân Ưu
   


 5 
 vào lúc: Tháng Tám 23, 2016, 01:33:38 AM 
Tác giả KhamPham - Bài mới nhất gửi bởi KhamPham
Tham Luận
Trở về nguồn theo dòng chính của Đạo
Hơn 40 năm qua lìa xa quê hương đất tổ, xa đạo, xa nguồn cội, chúng ta phải chịu đủ khó khăn trong cuộc sống nhất là phải vất vả vô cùng trên đường hành đạo: từ gầy dựng Hội Tín Hữu CĐ đến BTS hay Hương Đạo, tạo dựng nơi Thờ cúng tạm rất đơn sơ, nhỏ nhoi và khiêm nhường.
Hành Chánh Đạo phải dừng ở BTS hay Hương Đạo rất dài lâu đến khi tạo dựng được 1 vài Thánh Thất mới có vài Tộc Đạo và tạm gầy được 1 Châu Đạo (lẽ ra chúng ta cần phải có thêm nhiều Tộc Đạo và Châu Đạo hơn nữa để tiến đến lập Trấn Đạo).
 Trong lúc đó BTĐ cũng chỉ khiêm nhường ở cấp HT dù thâm niên hành Đạo hơn 50 năm hoặc ít nhất 40 năm. HT trẻ thu nhận sau này cũng chỉ là khiêm nhường ở cấp HTDP (tư thế có khi còn không bằng tín đồ đối nội, đối ngoại đều không đủ tư cách để làm việc gì.)
Tình trạng bít nghẹt như vậy nên rất khó hoạt động, khó tổ chức. Tổng Quản Nhiệm BTĐHN phải đảm nhiệm 6 nhiệm kỳ (tức 18 năm). Lý do thiếu nhân sự để bầu cử lên đảm nhiệm chức vụ này. HTDP theo điều lệ nội qui mới sau nầy của BTĐ, không được quyền ứng cử TQN
Muốn tổ chức đầu não để liên kết và hỗ trợ các cơ sở Đạo rời rạc, rải rác, chúng ta phải quyền nghi tổ chức CQĐDCĐHN nhưng thực tế kết quả cũng rất khiêm nhường vì nhiều lý do, trong đó có lý do "cá mè một lứa", không hệ thống, không ai nghe ai…
Thời gian quá dài để quyền nghi trong tổ chức đạo, giờ đã đến lúc chúng ta phải đi vào dòng chánh của Đạo, thực hiện theo TLPCT là Hiến Pháp của Đạo để mọi sự được hanh thông. Chúng tôi tha thiết đề nghị trước Đại Hội:
1/ Chuyển CQĐDCĐHN thành Cơ Quan CTĐ vì nhiệm vụ liên kết và hỗ trợ Hành Chánh Đạo của CQĐDCĐHN chính là nhiệm vụ của cơ quan CTĐ.
2/ BTĐ mở rộng và bổ túc thành Cơ Quan HTĐ
    HTĐ là cơ quan hệ trọng bảo thủ chơn truyền luật pháp của Đạo như ĐCT đã dạy: HTĐ còn    Đạo còn, HTĐ mất Đạo mất…
    HTĐ phải gồm đủ 3 chi Đạo, Pháp, Thế mới trọn vẹn, đáp ứng tầm quan trọng của HTĐ.
3/ HTDP đổi thành HT theo đúng Nội Luật BTĐ do Hội Thánh ban hành.
    Đây là vấn đề thế hệ kế thừa liên hệ tương lai của Đạo và rất cấp thiết trong hiện tại đang thiếu nhân sự trầm trọng.
4/ HT Thâm Niên công nghiệp chiếu luật bầu cử trong TLPCT bầu lên Quốc Sĩ, Đại Phu v.v…Cung ứng đủ nhân sự điều hành trong 3 chi Đạo, Pháp, Thế hoặc đặc cách qua Cơ Quan CTĐ hiện rất cần, nhất là hoạt động ở Hải Ngoại, phải giao tiếp với các tôn giáo lớn trên thế giới.
Theo tinh thần TLPCT: bầu cử Dân Chủ là chính, cấp dưới họp lại bầu lên cấp kế trên, ngoại trừ trường hợp ĐCT ân phong mới ra khỏi luật đó.
Thực hiện bầu cử dân chủ là thể hiện quyền vạn linh. Quyền này tương đương với quyền chí linh.
Giờ không còn cơ bút, tại sao chúng ta không mạnh dạn xử dụng bầu cử dân chủ theo phương cách TLPCT chỉ dẫn để giải quyết vấn đề nầy.
Kết luận: chúng ta hãy quay về nguồn, đi theo sát TLPCT mới hành đạo có kết quả, đạt thành ước nguyện thiêng liêng kỳ vọng.
         Tân Luật lót đường Tân Dân Chủ.
         Pháp Chánh Truyền lập hệ thống kỷ cương.
         Chí Tôn giáng hạ dẫn đường.
         Nhân gian hạnh hưởng miên trường vĩnh sanh!
                        HT. Nguyễn Ngọc Nương
Nguyện cầu ĐCT soi sáng để Đại Hội được thành công mỹ mãn.
Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.




                                        VÀI THÀNH Ý XIN GỞI VỀ:
Đại Hội BAN THẾ ĐẠO HẢI NGOẠI &
Đại Hội CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO ĐÀI HẢI NGOẠI
(Tổ chức ngày 3 & 4/9/2016 tại Thánh Thất Cao Đài Houston, TX)
_______________

Chủ Đề:
HÃY GIỮ GÌN
TRANG SỬ ĐẠO CAO ĐÀI TẠI HẢI NGOẠI
MÃI MÃI TRONG SÁNG
CHỜ NGÀY CƠ ĐẠO HẾT CHINH NGHIÊNG

Như cơ Trời định trước, sau năm 1975 hàng triệu triệu người Việt bỏ nước ra đi lưu vong khắp nơi trên thế giới để rồi ngày nay các Cộng Đồng người Việt ở hải ngoại đang trên đà phát triển mạnh về mọi mặt, từ Văn hóa đến Phong tục Tập Quán...Đặc biệt phải kể tới nền Văn Hóa và Giáo lý Cao Đài: Tam giáo Qui nguyên, Ngũ Chi Phục nhứt cộng thêm nền Phong Hóa nhà Nam được giáo lý Cao Đài chiếu sáng trên nền tảng Nho Tông Chuyển Thế...Trước biến chuyển quá vi diệu nầy khiến chúng ta phải suy gẫm lại những lời tiên tri mà Đức Chí Tôn đã giáng cơ ngay trước khi khai Đạo:
"Từ đây nòi giống chẳng chia ba,
Thầy hiệp các con lại một nhà,
Nam, Bắc cùng rồi ra ngoại quốc,
Chủ quyền Chơn Đạo một mình ta".
( Đàn cơ ngày 15-9 Bính Dần- 1926 )
Hoặc:
Trong đàn cơ đêm mùng 1 tháng 4 năm Mậu Tý ( 1948 ), Đức Chí Tôn cũng hé mở cơ huyền vi cho chúng ta thấy rằng:
Quốc Đạo kim triêu thành Đại Đạo, Nam Phong thử nhựt biến nhơn phong.
Hoặc:
...Việt Nam nhỏ bé trong Vạn Quốc, mà sau làm chủ mới kỳ !
Hoặc:
Như lời Đức Hộ Pháp đã từng thuyết giảng tại Tòa Thánh Tây Ninh vào năm 1948: "Những người đang ngồi hầu lễ Đức Chí Tôn hôm nay, ngày sau sẽ được diễm phúc đi truyền Đạo ở Hoa Kỳ mà chớ !"
Những lời tiên tri kể trên, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 bắt đầu lố dạng rõ ràng. Người tín đồ Cao Đài đang lưu vong tại hải ngoại, sau  hơn 40 năm đã gầy nên sự nghiệp đáng kể cho Đạo. Thật vậy:
- Tại từng địa phương nhỏ bé khắp nơi trên thế giới, người tín đồ Cao Đài tự tìm gặp lại nhau, kết hợp thành một Hương Đạo, tổ chức công cử Bàn Trị Sự, hình thành Hội Thánh Em cốt giữ lấy Chơn truyền, hoằng khai nền Đại Đạo, rồi đến việc Phổ độ chúng sanh...Từ căn bản đó lần phát triển thành Tộc Đạo, rồi đến Châu Đạo...
Từ Châu Đạo mở rộng con đường ngoại giao qua Hội Đồng Liên Tôn, qua các sinh hoạt Công Đồng, qua các công cuộc hành thiện, qua các cuộc giao tế ...Cộng thêm vào đó nhờ các hệ thống điện toán, các Website, Face book, Tập San, Bản Tin và nhiều Kinh sách được tái bản ...Tất cả là nỗ lực đẩy mạnh không ngừng công cuộc hoằng khai nền Đại Đạo ở hải ngoại. Nhìn vào thành quả mà Đạo Cao Đài ở hải ngoại đạt được nên được nhiều người ca ngợi: Đạo Cao Đài đang nở hoa khắp nơi trên thế giới, hoặc : Nơi nào có người Việt định cư là nơi đó có những tà áo dài trắng của các tín hữu Cao Đài đang phô diễn tinh thần Phổ Độ Chúng Sanh....Điều đáng đề cao và đáng trân quý hơn hết là các Hội Thánh Em đã không ngừng phát triển trong gian truân để thực thi sứ mệnh Thế Thiên hành hóa, góp phần trọng yếu trong việc vun bồi và phát triển nền Đạo tại hải ngoại. Đi đôi với phát triển cơ sở tổ chức Đạo, các Thánh Thất ở nhiều nơi đã hình thành với sắc thái Tòa Thánh Tây Ninh đầy huyền vi mầu nhiệm !
Thực sự tại hải ngoại, người tín đồ Cao Đài đã và đang viết nên những trang sử đẹp và xin hãy cùng nhau giữ gìn mãi mãi để chờ ngày cơ Đạo hết chinh nghiêng ! Phải chăng đây là dấu hiệu tiên khởi cho lời tiên tri của Đức Hộ Pháp: "Đạo thành từ ngoài thành vào !"
Mặt khác như chúng ta được Đức Chí Tôn báo trước "Đạo Khai Tà Khởi" qua đàn cơ ngày 29 tháng 6 năm Bính Dần (1926) như sau:
"Những sự phàm tục đều là mưu kế của Tà Mỵ Yêu Quái cốt để ngăn trở bước đường Thánh Đạo của các con. Những mưu quỉ quyệt ấy do lịnh của Thầy dùng để thử các con. Thầy đã nói Thầy đã thả lũ hổ lang ở lộn cùng các con, nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp chúng nó chẳng hề thấy đặng là Đạo Đức của các con. Thầy lại khuyên các con gìn giữ bộ thiết giáp ấy cho đến ngày hội hiệp cùng Thầy. Ấy vậy Đạo là vật rất hữu ích như giáp rất hữu ích cho thân các con, nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra người trần lỗ, còn bỏ Đạo thì các con ở dưới phép Tà Thần.
Các con chớ ngại, ngày nay Đạo đã khai tức là Tà khởi. Vậy thì các con hãy hết lòng, hết sức mà gìn giữ lấy mình; đã chẳng phải giữ mình các con mà thôi, lại còn gìn giữ các Môn đệ của Thầy nữa.
Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: Cả Môn đệ Thầy đã lựa chọn, lọc lừa còn lối nửa phần, vì Thầy cho Yêu Quái lấy danh Thầy mà cám dỗ...Cười!...Đi bao nhiêu đều mất bấy nhiêu. Các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít là lẽ hằng, các con liệu phương thế mà nâng đỡ đức tin của Môn Đệ lên cao hằng ngày, ấy là công quả đầu hết."
Từ các Cơ sở Đạo lẻ loi được thành lập và hoạt động khắp nơi trên thế giới, từ sự phát triển nhanh chóng nền Đạo tại hải ngoại, để gìn giữ cũng như bảo tồn sự nghiệp Đạo được gầy dựng nên và nhất là cần đề cao cảnh giác trước lời khuyến cáo của Đức Chí Tôn rằng: "Đạo đã khai tức là Tà khởi" nên nhị vị Gíao Hữu Thượng Ngọc Thanh và Thái Cầm Thanh đã ủy thác Ban Thế Đạo Hải Ngoại triệu tập Đại Hội Tín Hữu Cao Đài Hải Ngoại vào năm 2006 tại thành phố San José thành lập Cơ Quan Đại Diện Cao Đài Hải Ngoại với sứ mạng:
- Hình thành một Cơ chế chung cho mọi sinh hoạt Đạo sự tại hải ngoại để bảo thủ Chơn Truyền và thực thi sứ mạng Tam Kỳ Phổ Độ theo Thánh ý của Đức Chí Tôn.
-Từ các Cơ sở Đạo hoạt động đơn điệu, biệt lập như một chiếc đũa lẻ loi, kết hợp thành bó đũa có thế đứng vững chắc để đối phó với qui luật : "Đạo Khai Tà Khởi", chận đứng mọi mưu đồ phá đạo của Tà Thần tại hải ngoại.
-Hợp lực cùng nhau để chung lo phát triển.
 . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nhờ vậy, Đạo Cao Đài mới xứng danh với lời ca ngợi là đang nở hoa khắp nơi trên Thế giới và nếu điểm qua lịch sử các tôn giáo, có thể nói mà không sợ sai lầm rẳng: Chưa có tôn giáo nào phát triển một cách nhanh chóng ra khắp nơi trên thế giới như Đạo Cao Đài hiện nay !
Đó là điều đáng mừng, tuy nhiên chúng ta cũng thừa hiểu "phúc" và "họa" luôn luôn hiện hữu bên nhau, nghĩa là phúc đó, họa đó ....không ai lường trước được. Vả lại, với Tam Kỳ Phổ Độ là cơn sàng sảy, gạn lọc ...dần đưa các thí sinh tham dự Đại Hội Long Hoa.
Chấp nhận cơ Trời là như vậy, nên người tín đồ Cao Đài chơn chính không sờn lòng, nản chí trước những cơn thử thách. Với bó đũa luôn luôn kết chặt vào nhau, với niềm tin mãnh liệt nơi Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu không phụ lòng đối với những đứa con hiếu hạnh nên nay mai nếu có vài biến chuyển xảy ra đối với cơ Đạo hải ngoại, người tín đồ Cao Đài xem đó là việc đương nhiên như cơn khảo thí đang diễn ra trước mắt.
Tỷ như:
I- Xu hướng thành lập Giáo quyền ở Hải ngoại (Hội Thánh ở Hải Ngoại).
Có người (hoặc nhóm người) đã dùng thành ngữ "Cá Mè Một Lứa" để ám chỉ tập họp một nhóm người sinh hoạt không có tôn ti, trật tự, vô kỹ luật, không ai kính nễ ai...  để mô tả thực trạng của Đạo Cao Đài hiện nay tại hải ngoại. Rồi từ đó đưa ra dự thảo táo bạo: "Thành Lập Hội Thánh Cao Đài Hải Ngoại."
Thực ra, với nhận định cá mè một lứa có thể đúng với các đơn vị không bám lấy gốc Đạo. Gốc của Đạo là Hội Thánh do Đức Chí Tôn lập nên và Hội Thánh là hình thể Đức Chí Tôn tại thế. Vì vậy Hội Thánh có cái quyền tuyệt đối của Hội Thánh, không có thứ quyền lực nào tước bỏ được. Tuy nhiên hiện nay, về hình thức thì Hội Thánh coi như bị giải thể, điều mà toàn thể tín đồ đành cam lòng chấp nhận theo lời khuyến nhủ của Ngài Hồ Bảo Đạo: "Cam chịu giải thể Hội Thánh còn hơn giữ Hội Thánh do Đức Chí Tôn lập nên để chịu dưới quyền của phàm tục..". (Bản Phúc Trình Chung Niên 1977 của Ngài Hồ Bảo Đạo, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và Ngài Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh, Chưởng Quản Cửu Trùng Đài cùng ký tên).
Phần hữu hình là như vậy, về mặt Thiêng Liêng thì vi diệu hơn, Hội Thánh là Thánh Thể của Đức Chí Tôn tại thế, chỉ có Đức Chí Tôn mới có quyền lập ra Hội Thánh và chỉ có Ngài mới có quyền chọn Chức sắc làm Thánh Thể của Ngài. Hội Thánh quyền biến theo từng hoàn cảnh, có lúc cần hiện hữu, cũng có lúc không cần hiện hữu để hoàn thành sứ mạng mà Đức Chí Tôn giao phó trong khoảng thời gian dài "Thất Ức Niên" và khẳng định không một cường quyền nào tiêu diệt đặng. Điều mà Đức Hộ Pháp cũng đã từng thuyết giảng: "Còn một mặt tín đồ, Hội Thánh vẫn còn quyền Hội Thánh". Cần phải hiểu rõ rằng "Tín đồ" mà Đức Hộ Pháp nêu trên là tín đồ chơn chánh trung kiên với Đạo, luôn "Giữ tròn câu Minh Thệ, gìn Luật lệ Cao Đài".
Người tín đồ Cao Đài chơn chánh dù đứng trước mặt Hội Thánh hay sau lưng Hội Thánh luôn luôn giữ lấy tinh thần tự khép mình trong khuôn khổ để chu toàn bổn phận của mình. Hay nói rõ hơn, Hội Thánh mãi mãi hiện hữu trong tâm của người tín đồ Cao Đài và quyền lực của Hội Thánh là Tân Luật - Pháp Chánh Truyền, là Thánh Ngôn, Thánh giáo, là các Thánh Lịnh, Đạo Lịnh v.v...  
Vậy thì Hội Thánh còn hay mất là do nơi tâm của người tín đồ ! Những ai thấy cần hình thành Hội Thánh tại Hải ngoại phải chăng trong tâm họ đã mất niềm tin ?

II. Về chủ trương phong phẩm để lâp Giáo quyền.
Một số chư Huynh Tỷ đặt thành vấn đề : Ở hải ngoại số Hiền Tài Dự Phong có thừa điều kiện Hội Thánh trước đây đã qui định cho phẩm Hiền Tài, tại sao lại không công nhận họ là Hiền Tài ? Nhiều vị Chánh Trị Sự đã từng phục vụ nhiều năm với Hành Chánh Đạo hết sức đắc lực, thế mà CTS vẫn mãi mãi là CTS ? Như vậy làm sao phát triển được ? Từ những suy tư đó, họ đặt thẳng vào vấn đề:
-Cần hình thành việc phong phẩm ngay và tổ chức Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài (gồm đủ 3 chi Đạo, Pháp, Thế) mới có thể giải quyết các vấn nạn nêu trên!
Tôi nghĩ đó là giai đoạn đầu để dọn đường hình thành Hội Thánh ở Hải Ngoại?
-Về phong phẩm, lập luận rằng : "Giờ không còn cơ bút, tại sao chúng ta không mạnh dạn sử dụng quyền bầu cử dân chủ theo phương cách TLPCT chỉ dẫn để giải quyết vấn đề nầy." Từ đó đưa ra chủ trương cần thực hiện "bầu cử Dân chủ là chính, cấp dưới họp lại bầu lên cấp kế trên" ...và cho rằng "Thực hiện bầu cử Dân chủ là thể hiện quyền vạn linh. Quyền này tương đương với quyền Chí linh."
A- Vài tâm tư về phong phẩm.
Ý kiến nêu trên mới nghe qua thì thấy hợp tình, hợp lý, vì ngày nay không còn Cơ bút thì làm sao gầy dựng các cấp phẩm cho một hệ thống giáo quyền, nhưng nếu đi vào khuôn  Luật huyền vi của Đạo Trời thì làm sao có thể lấp lửng hoặc ngộ nhận đáng tiếc khi cho rằng việc bầu cử hay biểu quyết trong sinh hoạt nội bộ của một tổ chức Đạo (hay của một nhóm người), gọi đó là thể hiện quyền Vạn Linh? và lại còn cho rằng quyền nầy "tương đương với quyền Chí Linh" tức là quyền của Chí Tôn để thực hiện việc phong chức, phong phẩm..?.
Mặt khác, cần thấy rõ rằng trong các sinh hoạt Đạo hải ngoại hiện nay, xét về phẩm vị thiêng liêng do Hội Thánh ân phong thì cao nhứt là phẩm Hiền Tài (chức sắc Ban Thế Đạo) thuộc về Thần vị, đối phẩm từ Thiên Thần trở xuống (ngoại trừ hai vị Giáo Hữu thuộc hàng Thánh vị, khi lập Cơ Chế Hiệp nhứt năm 2006 ), thì sao chư vị thuộc hàng Thần vị không thuộc bất cứ cấp phẩm nào trong hệ thống Chức sắc Cửu Trùng Đài lại dám đứng ra dẫn đạo biểu quyết phong Thánh thay quyền của Chí Tôn để từ đó lập ra Hội Thánh?
Xin chư vị xét lại mình là ai trong hệ thống cấp phẩm của Hội Thánh và xin đừng quên là trong việc cầu phong, cầu thăng Chức sắc Cưu Trùng Đài, Đức Chí Tôn đã từng khẳng định: "Nếu không có sự chuẩn thuận của Đức Lý Gíao Tông thì Thầy không chấp nhận nghe à !"
Vả lại, nói về Hội Thánh, trong Bài thuyết Đạo ngày 28 tháng 6 năm Mậu Tý, (dl. 3-8-1948), Đức Hộ Pháp có dạy rõ "...Hội Thánh dầu Nam dầu Nữ, tức là hình ảnh của Chí Tôn, Chí Tôn giao cả đảm nhiệm làm Cha và làm Thầy. Hễ thay thế Chí Tôn làm Cha làm Thầy thì tức nhiên mình là Cha là Thầy; nếu làm Cha cho xứng đáng Cha, làm Thầy xứng đáng Thầy, thì chúng sanh làm thế nào mà không tôn trọng như Cha như Thầy được...".
Theo Thánh Ý trên, Hội Thánh do Đức Chí Tôn lập ra được giao nhiệm vụ làm Cha và làm Thầy, thì phải cho xứng đáng là Cha, là Thầy. Vậy thì những ai chủ trương hoặc manh nha lập Hội Thánh và muốn làm Thầy, làm Cha của chúng sanh hãy tự quán xét lại mình là ai và có đủ tư cách để làm Thầy, làm Cha mà dìu dắt, dạy dỗ nhơn sanh ?!

B-Về phong phẩm trong Ban Thế Đạo Hải Ngoại?
1)- Nhìn về vai trò của BTĐHN trong thời Đạo loạn.
Trước hết, cần xác định rõ vai trò trọng yếu của Ban Thế Đạo Hải Ngoại (BTĐHN) trong việc bảo thủ Luật Pháp Chơn Truyền trong thời Đạo loạn. Là cơ quan Đạo thuộc Chi Thế Hiệp Thiên Đài được thành lập ở hải ngoại, BTĐHN luôn được xem là một tổ chức chính danh của Hiệp Thiên Đài, ngoài nhiệm vụ giúp Đạo, trợ đời; BTĐHN nói chung và từng chư vị Hiền Tài nói riêng, còn mang một trọng trách thiêng liêng, cao quý là "phải bảo vệ Đạo và gìn giữ luật Pháp Chơn Truyền của Đạo".  
Hãy xem tấm gương sáng ngời trung kiên của hơn (30) Chức sắc HTĐ trong nước (từ Luật Sự đến Cải Trạng), suốt hơn 40 năm qua, quyết tâm gìn giữ Luật Đạo, không cầu phong, cầu thăng trong cơ chế phàm phong để nhận áo mão, phẩm vị phàm tục.
Vì vậy, quan điểm của người viết bài nầy xin miễn bàn về ý kiến cho rằng "Ban Thế Đạo cần mở rộng và bổ túc thành hệ thống HTĐ gồm đủ 3 chi Đạo, Pháp, Thế" để gọi là "đi vào dòng chánh của Đạo, thực hiện theo Tân Luật Pháp chánh Truyền là Hiến Pháp của Đạo để mọi sự được hanh thông..". vì xét thấy rằng ý kiến nầy hoàn toàn nằm ngoài Luật Đạo và cầu mong rằng đây không phải là chủ trương tiến tới xóa bỏ sự tồn tại của Ban Thế Đạo Hải Ngoại ?
2)- Vài thực tế về phong phẩm cho Hiền Tài Dự Phong (HTDP).
Đây là vấn đề cần được xem xét cẩn trọng vì việc phong phẩm Hiền Tài thuộc quyền của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài đã được qui định rõ trong Quy Điều và Nội Luật Ban Thế Đạo do Hội Thánh ban hành.
- Trước hết về ý kiến cho rằng "Hiền Tài trẻ thu nhận sau này cũng chỉ là khiêm nhường ở cấp HTDP (tư thế có khi còn không bằng tín đồ; đối nội, đối ngoại đều không đủ tư cách để làm việc gì)". Vì vậy "Hiền Tài Dự Phong cần đổi thành Hiền Tài theo đúng Nội Luật BTĐ do Hội Thánh ban hành".
Như ai cũng biết trước đây, vì danh thể của Đạo đồng thời để khuyến khích giới trẻ và nâng cao vị thế của HTDP khi làm nhiệm vụ đối ngoại, Ban Quản Nhiệm BTĐHN đã linh hoạt chấp thuận cho HTDP được mặc tràng y (06) nút y như là Hiền Tài Chánh vị. (Trước đây, khi Hiền Tài được Hội Thánh cử đi đối ngoại, được phép mặc tràng y 06 nút dành cho Chức sắc HTĐ).  
Như vậy, cho là HTDP "đối nội, đối ngoại đều không đủ tư cách để làm việc gì".? và lại cho là "tư thế có khi còn không bằng tín đồ..?". Như vậy nghĩa là sao?
- Thử hỏi có bao nhiêu vị HTDP hiểu luật Đạo muốn được phong phẩm Hiền Tài để được mặc Đại Phục có gắn phù hiệu Cổ Pháp Giáo Tông và để khi vào lễ bái Lễ Đức Chí Tôn được quì ở vị trí trên vị Lễ Sanh hoặc vị CTS chủ Lễ sở tại ? (Đây là vị trí quì cúng mà Hội Thánh ân phong cho chư vị Hiền Tài chánh vị trước năm 1975)
- Có thể có một vài HTDP trẻ chưa am tường nhiều về Luật Đạo sẽ nhiệt tình nhận lãnh phẩm Hiền Tài phàm phong, nhưng khi về địa phương không được Hành Chánh Đạo địa phương công nhận...sẽ dẫn đến tình trạng nãn lòng, thối tâm lui bước trên con đường Đạo thì ai chịu trách nhiệm trước Thiêng Liêng? Đó là chưa kể đến trường hợp khi vị Hiền Tài phàm phong qui vị, có BTS sở tại nào "giữ tròn luật Đạo" dám làm Lễ Tang theo cấp phẩm Thiên Thần như Hiền Tài Chánh vị không?. . . . . .
Qua vài điểm được phân tách trên cho phép chúng ta kết luận rằng phong phẩm Hiền Tài cho HTDP (Phàm phong) không mang ý nghĩa là "lập vị", cũng không có ý nghĩa là để "nâng cao vị thế đối nội, đối ngoại" cho chư vị HTDP theo như một vài suy tưởng mang tính chủ quan, vượt ra ngoài khuôn khổ của Luật Đạo.
3)- Một số hệ lụy do phàm phong Hiền Tài - Giải pháp đề nghị.
Chủ trương phàm phong được thực hiện (phong phẩm cho HTDP) sẽ làm phân hóa trong nội bộ Ban Thế Đạo Hải Ngoại (giữa HT Chánh vị và HT phàm phong; giữa HT phàm phong và chư vị HTDP không chấp nhận phong phẩm vì tuân hành luật Đạo).
Với cơ chế phong phẩm, một hệ thống Hiền Tài phàm phong rồi đây dần sẽ được hình thành trong Ban Thế Đạo Hải Ngoại, sẽ làm suy yếu, biến chất Ban Thế Đạo Hải Ngoại từ một tổ chức Đạo thuộc Chi Thế Hiệp Thiên Đài dần trở thành một "tổ chức Phàm trần" (có thể xem như là một hội đoàn) mang danh nghĩa của Đạo...Như thế thì còn đâu sứ mạng thiêng liêng bảo vệ Đạo và bảo thủ Luật Pháp Chơn Truyền của Đạo? Nếu hệ quả nghiêm trọng nầy xảy ra thì trách nhiệm thuộc về ai ?
Trước những hệ lụy quá lớn lao nêu trên, xin toàn Đạo hải ngoại cùng nhau suy gẫm và xin nhắc nhở con em chúng ta để không bị dẫn dắt vào vòng phàm phong thất Thệ.
Thôi thì thay vì phàm phong Hiền Tài (phong phẩm), xét thấy việc đổi tên HTDP thành Hiền Tài Hải ngoại (và gọi tắt là Hiền Tài) sẽ là một giải pháp khả thi, hoàn toàn thích hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Điều hệ trọng là chư vị có trách nhiệm Ban Thế Đạo cần tìm ra phương thức thích hợp để "lập vị" cho chư vị Hiền Tài Hải Ngoại, tạo điều kiện cho chư vị HT Hải Ngoại lập công bồi đức phục vụ cho Đạo theo như hoải bão của Hội Thánh khi thành lập Ban Thế Đạo.
4)- Đôi dòng tâm huyết về phàm phong trong BTĐHN.
Sau cùng, xin khẳng định là nếu chư vị tự tiến hành phong phẩm (HTDP thành Hiền Tài chánh vị, Hiền Tài Chánh vị lên Quốc Sĩ, Đại Phu . .), thì quý vị vi phạm nghiêm trọng (nếu không nói là xé bỏ) Bản Quy Điều và Nội Luật Ban Thế Đạo do Hội Thánh thành lập chiếu theo Thánh Giáo của Đức Lý Giáo Tông (mồng 3 tháng Chạp năm Quý-Tỵ -1953) và Đức Hộ Pháp chỉ dạy (mồng 9 tháng 2 năm Ất Tỵ -1965), vì theo Quy Điều Ban Thế Đạo, Hiền Tài Chánh vị phải do Hội Thánh ân phong, phẩm Quốc Sĩ phải đủ điều kiện của do Hội Thánh xét và phải do quyền Thiêng Liêng tức là quyền Chí Tôn quyết định. (vì phẩm Quốc sĩ đối phẩm trên Giáo Hữu dưới Giáo sư Cửu Trùng Đài thuộc vào hàng Thánh Vị).
Trên đây là những dòng tâm huyết, rất mong được quan tâm của chư vị Hiền Tài cùng toàn thể quý Huynh Tỷ, Đệ Muội Hiền Tài Dự phong Ban Thế Đạo Hải Ngoại và toàn Đạo để tất cả chúng ta cùng nhau lập công bồi đức trên đường Chánh Đạo trong cửa Tam Kỳ Phổ Độ.

III- Vấn đề Cơ Quan Đại Diện Cao Đài Hải Ngoại:
Có người cho rằng Cơ Quan nầy sau 9 năm hoạt động với những thành quả hết sức khiêm nhường nên đề nghị biến thành Tổ Chức Cửu Trùng Đài.
Đó là đề nghị cho một hành động thiếu đắn đo. Bởi lẽ: Cơ Quan được hình thành do một Đại Hội Tín Hữu Cao Đài Thế giới tại San José dưới sự chứng kiến của nhị vị Gíao Hữu nên không ai có quyền thay hình đổi dạng thành một tổ chức khác. Thí dụ như biến Cơ Quan thành Tổ Chức Cửu Trùng Đài. Nếu thấy cần thay đổi thì nên công minh khai tử (tức giải tán) cái nầy để rồi khai sanh cái khác, hoặc là Quý vị tự tập hợp bên ngoài Cơ Quan, liên kết với nhau mà phong phẩm phong chức, lập ra một tổ chức Giáo quyền mới để cùng nhau "đi vào dòng chánh của Đạo". Như vậy thì xem ra danh chánh ngôn thuận và quang minh chánh đại hơn.

* KẾT LUẬN:
Với phương thức phong phẩm để lập giáo quyền nêu trên (tức Hội Thánh, còn được đặt cho tên là Cơ Quan Cửu Trùng Đài, Cơ Quan Hiệp Thiên Đài) nếu diễn ra, thì rồi đây ở hải ngoại, như đã trình bày trên, sẽ hình thành một hệ thống Giáo quyền phàm phong (mà chắc chắn là không có mấy ai hưởng ứng) thế thì nó có khác gì với Hội Thánh trong nước hiện nay được mang danh là "Tổ chức phàm trần" do nhà cầm quyền Cộng sản lập ra để dẫn dắt nhơn sanh đi vào Bàn Môn Tả Đạo?
Nếu điều nầy thực sự diễn ra, tác hại nghiêm trọng sẽ đến cho cơ Đạo ở hải ngoại là: "Cơ Quan Đại Diện Cao Đài Hải Ngoại và có thể cả Ban Thế Đạo Hải Ngoại sẽ bị suy yếu hoặc bị xóa bỏ". Đây là hai tổ chức Đạo do Chức sắc Thiên Phong (hai vị Giáo Hữu) và Chức sắc Ban Thế Đạo (Hiền Tài) và toàn Đạo ở hải ngoại đã dày công lập ra để "bảo vệ Đạo, gìn giữ Chơn Truyền và chung lo phát triển Đạo" ở hải ngoại trong hơn 20 năm qua.
Rồi đây, cơ Đạo tại hải ngoại sẽ đi về đâu? Chắc chắn sẽ bị phân hóa và sẽ rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng và tiếp theo những trang sử trong sáng của Đạo đã viết nên từ hàng chục năm qua, nay là cái gì sẽ nối tiếp ?
Và ai sẽ chịu trách nhiệm trước Thiêng liêng và lịch sử Đạo trong mai hậu?

Thưa cùng chư Huynh Tỷ,
Tất cả những gì chúng tôi nghe ngóng được trước ngày Đại Hội Cơ Quan và Đại Hội Hiền Tài Ban Thế Đạo Hải Ngoại sắp khai mạc tại Houston vào đầu tháng 9 năm 2016, nay xin được phơi bày trước với lời kêu gọi thiết tha cùng chư Huynh Tỷ Đồng Đạo hãy suy cho cùng, nghĩ cho cạn để Cơ Đạo tại hải ngoại luôn luôn bám vững Chơn Truyền và an bình phát triển cho đến ngày cơ Đạo hết chinh nghiêng...Đó là một sự dâng hiến công quả quí báu, đồng thời chúng ta cũng viết nên trang sử Đạo đẹp tại hải ngoại để con cháu đời sau tiếp nối.
Hiện tại, chúng ta đang đứng trước ngã ba đường:
Đường rẽ bên mặt: Những người vui sống với đời sống đạo đức, những người có tâm hồn trong sáng... đang được các Đấng Thiêng Liêng dìu dẫn và dần đưa xác tục dựa gần cõi linh.
Đường rẽ bên trái: Những người  bị  Qủi Ma lấy danh, lợi . . .dụ dỗ dẫn về Địa Ngục như Đức Chí Tôn đã từng nói: “Hại thay ! Lũ quỉ lại là phần nhiều, nó bày bố ra mỗi nơi một giả cuộc mà dỗ dành các con....Thầy lắm phen phải bị mất, bị giựt con cái của Thầy vì chúng  nó."
Như vậy, trước ngã ba đường, chúng ta hẳn nên hết sức thận trọng kẻo bị lầm đường lạc lối và thiết tưởng chúng ta nên luôn luôn ghi lòng tạc dạ lời dạy của Đức ChíTôn:
“Ấy vậy, Đạo Đức các con là phương pháp khử trừ Quỉ mị, lại cũng là phương dìu dắt các con trở lại cùng Thầy. Các con không Đạo thì là tôi tớ Quỉ mị. Thầy đã nói Đạo Đức cũng như một cái thang vô ngằn, bắc cho các con leo đến phẩm vị tối cao, tối trọng là ngang bực phẩm cùng Thầy.”
Chúng ta cũng cần ghi nhớ lời dạy của Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Theo Thánh giáo Đêm Mùng 3 tháng 4 Quí Dậu/ 26/5/1933):
“....Luật Pháp của Đức Chí Tôn đã đào tạo đều hữu ích cho Cơ quan hành động cho Chánh Giáo của Người....Hễ tùng thì Đạo thành, nghịch thì Đạo diệt. Cả thảy Hội Thánh chưa ai đặng quyền ra khỏi ngoại Luật.
Chúng ta vâng theo mới đắc thành quyền hành Hội Thánh, thảng có một người nghịch thì làm rối loạn Chơn Truyền. . .” ( Trích TNHT, Q2.1966)

Thôi thì lo trao giồi Đạo Đức, lập công bồi đức, nghĩ chi đến việc cầu phong, cầu thăng...., xin hãy cùng nhau cầu nguyện và tích cực góp phần xây dựng nền Đạo hải ngoại luôn được an bình và phát triển mạnh.
Ngoài ra cũng xin quan tâm đến sự nhận định của Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài cùng Ngài Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh, Chưởng Quản Cửu Trùng Đài trong Bản Phúc Trình Chung Niên 1977 đã tiên liệu nền Đạo sẽ bị quyền Đời lèo lái nên quyết định: "Ngưng ngay các việc cầu phong, cầu thăng để giữ giá trị Thiêng Liêng cao quí của hai chữ THIÊN PHONG, thà ngưng còn hơn nhận lấy phẩm tước phàm tục".
*  *  *
Trên tinh thần của "Luật Thương yêu và quyền Công Chính", người viết bài nầy không ngoài mục đích ký gởi chút tâm tư đến chư Huynh Tỷ để thiết tha kêu gọi cùng nhau giữ gìn cơ nghiệp Đạo tại hải ngoại. Nếu có những ý kiến khác biệt làm quý vị phật lòng, kính mong quí vị hiểu cho rằng tất cả cũng vì Đạo mà sẵn sàng tha thứ cho nhau.

Thân ái kính chào chư Huynh Tỷ.

 Hiền Tài PHẠM VĂN KHẢM

      







 6 
 vào lúc: Tháng Tám 05, 2016, 10:58:00 PM 
Tác giả Admin - Bài mới nhất gửi bởi Admin
Con Người Có Thể Trả Hết Nợ Trong Một Kiếp Sống Hay Không?
   
Chúng ta đã có dịp nói qua về con đường tiến hóa của Vạn Linh hay là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống, tức là con đường tiến hóa từ vật chất đến thảo mộc, thú cầm mới lên phảm người. Giai đoạn đó phải đòi hỏi cả ngàn năm, muôn kiếp trong mỗi phẩm.
Vì vậy, từ buổi mới kết tạo trong bào thai thì mỗi đơn vị nhơn loại đã phải chịu ảnh hưởng nợ tiền khiên của các bậc tiến hóa trước, từ kim thạch đổ lên đã phải chịu trong vòng vận chuyển của Bát Hồn.
Hiểu được vậy thì mỗi chúng ta khi mới tượng hình trong bào thai đã có nợ rất nhiều rồi trong tiền kiếp trên bước đường tiến hóa từ khi còn là kim thạch đổ lên. Như vậy thì mỗi kiếp sanh đã sẵn nặng nợ của Tạo vật dẫy đầy, mặc dầu là chưa làm chi nên tội.
Rồi một khi lọt lòng mẹ bước ra chào đời thì lại còn thêm nặng nợ xã hội nhơn quần, bắt đầu là nợ sanh thành dưỡng dục, mớm cơm vú sữa, rồi đến nợ áo cơm ăn học, nợ tình cảm trong gia đình, cha mẹ, anh em, thân tộc rồi đến bạn tác. Khi đến lúc trưởng thành thì lại thêm quả nghiệp tạo dựng gia đình nên chồng nên vợ, nhà cửa, nhứt nhứt mỗi nhu cầu trong sự sanh sống hằng ngày đều là cơ hội để vay thêm nợ của xã hội. Đó là định nghiệp của một kiếp, lấy lý mà suy nghiệm, thì cả một kiếp sanh, mỗi đơn vị con người đã phải chịu ơn tấn hóa của hóa nhơn, rồi lại chịu ơn cấp dưỡng của đồng loại. Hai cái ơn ấy cả đơn vị chơn hồn con người phải đi theo đà sanh hóa, luân chuyển mãi thôi !
Trong cơ vay trả biết bao giờ mới hết?
Đó là nói về nguyên quả, còn nói về nghiệp quả, thì ngoài các món nợ mà ta tự gây nên lại còn phải chịu nợ của những kẻ đã hy sinh cho kiếp sống của chúng ta ấy là sự nhờ vã lẫn nhau trên đường sanh nghiệp.
Bát cơm của chúng ta ăn hằng ngày để nuôi sống thân phàm nầy, là do ơn của bao nhiêu người đã phải khổ cực, dầm sương dãi nắng để tạo ra, từ người nông phu luôn cả con súc vật đã cực khổ cày bừa, dọn dẹp thửa đất cho sạch sẽ để rồi gieo lúa lên mạ. Khi cây mạ đúng sức rồi, phải nhờ bao nhiêu công để cấy. Khi cấy xong rồi còn phải chăm nom, săn sóc, giữ cỏ, giữ nước, giữ sâu bọ, chim chóc, đến lúc chín còn phải cắt, gặt, đập, giê xay, giã .v.v...Ra hột gạo rồi còn phải vo nấu cho ra hột cơm mình ăn. Cái áo chúng ta mặc , cũng do bao nhiêu công nợ mà chúng ta phải chịu, từ kéo ra sợi chỉ, dệt lại thành bức cắt ra rồi may ráp lại cho ra kiểu vỡ một cái áo để ta mặc. Đó là chưa kể những nợ mà ta phải chịu về những người tạo ra máy móc, hoặc tạo ra cái kéo, cây kim .v.v...
Đấy là kể sơ hai thí dụ cụ thể để nhận thức những món nợ vô cùng lớn lao và đầy dẫy mà ta phải lo trả. Một khi ta nhận thức tận tường về lý rồi, thì ta nên kiếm ra lẽ đặng trả cho xong các mối nợ thì ta sẽ nhận thấy mãnh thân phàm nầy chẳng phải đến mặt Thế nầy cho một cá nhân mà cả sự liên đới của nhơn loại.
Bởi cớ, chẳng có một cá nhân nào được quyền sống cho đơn vị, tức là sống ích kỷ hay vị kỷ cho riêng mình, mà trái lại, phải đem hết kiếp sống của mình ra để phụng sự cho toàn thể, hoặc bằng lời nầy, hay phương khác theo thường gọi là phải sống vị tha.
Chúng ta cũng nên nhớ là nghiệp quả ở trong sự cấp dưỡng của đồng loại về cái ăn, đồ mặc, chỗ ở, thì chẳng phải lấy của mà trừ công cho đặng, mà là phải lấy thiện ý  chơn chánh để phục sự, hầu cứu an nhơn khổ, tức là ta phải lấy công mà trả công chớ không phải ỷ thế có tiền rồi lấy tiền làm trọng và xem công quả của đồng loại là rẻ. Đó là Đạo vậy.
Trong cửa Đạo, cũng như ngoài mặt xã hội, người đời thường xãy ra lắm nỗi éo le biến động. Ấy cũng bởi chưa hiểu thấy lý, và cũng không tìm ra lẽ, mới khiến xảy ra bao nhiêu cuộc xáo trộn làm khổ cho nhơn sanh, và cũng làm cho cơ cứu khổ của Đạo chẳng được thành hình, và nền Chánh giáo phải còn mờ tướng.
Lấy lý mà suy, đem lẽ đặng nghiệm, thì chúng ta thấy mỗi người chúng ta muốn sống trong xã hội, phải sống liên đới với tất cả tầng lớp nhân dân, chớ không thể sống riêng biệt mình, mà trái lại, phải sống bằng cách nhờ vã lẫn nhau.
Nếu lấy theo lý đó mà suy ra, thì mối nợ xã hội này chúng ta trả biết bao giờ mới hết, và như thế thì phải chịu luân chuyển cùng đà sanh hóa mãi hay sao?
Không đâu! Nếu chúng ta biết luật tiến hóa của vạn linh đã định là hy sinh về kiếp sống của mọi xác thân nơi mặt thế này.
Mọi xác thân nơi mặt thế nầy phải là vật hy sinh trên đường thế sự.
Thêm nữa trong cửa Đạo, chúng ta vẫn biết rằng Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng chú trọng nơi tâm thành, và chỉ lấy Tâm là quí. Vì thế, nếu chúng ta biết, thì cả món nợ hay nói cách khác, là cả công ơn của xã hội chúng ta có thể trả trong một kiếp mà quyền Thiêng Liêng Vô Hình vẫn chấp nhận cho ta, nếu ta đem hết tâm thành hy sinh trọn vẹn mãnh thân phàm để phục vụ cho nhơn loại, hay cho những kẻ chung quanh mình mà không có một điểm gì nhỏ mọn để nghĩ đến mình, tức là phải sống một đời hoàn toàn vị tha không còn một điểm gì vị kỷ, mặc dầu kết quả về mặt hữu hình không xứng đáng là bao, nhưng tấm lòng chơn thành quyết chí trọn vẹn hy sinh đã bao trùm hết, và nếu quả quyết làm đúng theo vậy, thì quyền Thiêng Liêng sẽ cho TRỪ HẾT NỢ TRONG MỘT KIẾP !
Mới nghe qua tưởng là dễ, chớ muốn thực hành cho đúng thì lại vô cùng khó khăn, từ trưóc chưa có mấy ai dám hy sinh trọn vẹn mãnh thân hình mà không có một ý nghĩ cỏn con về tư lợi cho mình, dầu là tư lợi về tinh thần hay là hữu danh.
Từ xưa đến nay ta chỉ thấy có một tấm gương để ấn chứng lẽ này trong cửa Phật giáo mà ít người đuợc hiểu rõ ý nghĩa. Đó là vị Phật thường gọi là Ông Dám, được các chùa Phật để thờ nơi Hậu Đường.
Sự tích sơ lược như sau: Ông là một người dốt nát thật thà, xin ở chùa làm công quả, lãnh phận sự nấu nước cúng Phật, và cho mọi người dùng. Mặc dầu hết sức tận tụy với nhiệm vụ, nhưng những người ở trong chùa, nhất là mấy chú Tiểu ngỗ nghịch rầy la, mắng nhiết hiếp đáp đủ điều mà ông vẫn vui vẽ âm thầm quên mình tận tụy với nhiệm vụ, không một lời oán trách hay than thở.
Thường bữa đến tối là Ông lo vùi một cục than lữa, để khuya Ông thổi lên nhen nhúm có lửa nấu nước cho Ông Sư công phu cúng Phật, vì thuở ấy không có diêm quẹt.
Một hôm có kẻ ác tâm lén tưới nước tắt mấy cục than lửa. Đến khuya Ông thức dậy dụm lữa, thì khổ nguy không biết lấy lửa đâu mà nhen nhúm. Buổi ấy là nhà ở thưa thớt. Muốn đến xóm trên xin lửa phải qua một khu rừng có đầy ác thú, nhưng vì nhiệm vụ Ông không kể thân sống, quyết đi xin cho được lửa đem về nấu nước cúng Phật cho kịp giờ, nên một mình trong đêm tối Ông băng mình đi đại.
Khi đến giữa rừng, gặp một con cọp đòi ăn thịt Ông, Ông van lạy để Ông đi xin đặng lửa về nấu nước cúng Phật cho kịp giờ, rồi Ông sẽ trở ra nạp thịt. Cọp bằng lòng, nên Ông đi xin đặng chút lửa than về nhen nhúm lên nấu nước cho kịp giờ cho Ông Sư cúng Phật .
Khi ấy, Ông quyết giữ lời hứa, nên lén một mình trở ra rừng nạp thịt cho cọp. hại thay, Ông lại gặp cọp gìà nói với Ông là răng cọp không còn cứng bén, mà xương Ông lại cứng, ăn không nổi, nên yêu cầu Ông leo lên cây cao buông tay rớt xuống cho dập xương thịt, cọp mới ăn đặng. Ông cũng bằng lòng hy sinh trọn vẹn leo lên ngọn cây thiệt cao buông tay cho rơi xuống đất.
Theo tích kể lại, lúc Ông buông tay rớt xuống, thì Ông được Phật rướt luôn và cọp già kia cũng là do Phật hóa hình để thử lòng Ông. Chuyện kể nghe có vẽ thần thoại, nhưng ý nghĩa là nêu lên một gương hy sinh trọn vẹn với một tinh thần vị tha bất vụ lợi, nên được quyền thiêng liêng chứng cho quả Phật vị, tức là Ông đã trả hết nợ trong một kiếp. Người ta đặt tên Ông là Ông Dám, vì Ông dám làm một việc mà chưa có ai dám làm.
Trong sự hy sinh thì Quyền Thiêng Liêng chỉ chứng cho TÂM THÀNH CHƠN CHÁNH không vụ danh, mà cũng không vụ lọi. Nếu sự hy sinh đó càng ầm thầm kín đáo chừng nào thì giá trị tinh thần lại càng cao chừng ấy, chớ quyền thiêng liêng không kể sự hy sinh ấy kết quả to lớn hay nhỏ mọn.
Nếu sự hy sinh có tính cách rầm rộ, quảng cáo, kích động quần chúng với mục đích vì hữu danh thì sự hy sinh ấy chẳng có giá trị gì hết với quyền Thiêng Liêng .
Vậy ai muốn hết nợ, hay đắc quả trong một kiếp thì chỉ có là phải dám hy sinh trọn vẹn quên mình âm thầm phục vụ cho mọi người là đặng.
Nhưng thử hỏi có mấy ai dám làm.

Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa




 7 
 vào lúc: Tháng Tám 05, 2016, 10:53:16 PM 
Tác giả Admin - Bài mới nhất gửi bởi Admin
   
KHÁI NIỆM VỀ ĐỊA NGỤC TRONG KINH ĐIỂN CAO ĐÀI
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN BÀI KINH SÁM HỐI.
Hiền Tài Nguyễn Long Thành
 
 ĐỊA NGỤC TRONG KINH ĐIỂN CAO ĐÀI.
Cõi Âm Quang
Bát Nương Diêu Trì Cung khi giảng về cõi âm quang có nói đại ý rằng, quan niệm về Địa ngục, Diêm đình, Phong đô, Địa phủ, Âm ty hayThập điện diêm cung.v.v..
Các cõi giới đó đã bị mê tín gieo truyền nhiều trong đầu óc con người, nghĩa là giáo lý của các tôn giáo đã truyền dạy bị xuyên tạc bởi sự mê tín của quần chúng.
Vì vậy trong Đạo Cao Đài, Bát Nương Diêu Trì Cung sáng tạo ra một từ ngữ mới gọi là Cõi Âm Quang, để thay thế những quan niệm xưa đã bị hiểu lầm rất nhiều.
Chúng ta cần chú ý ở điểm nầy. Sau đó, Bà có  dạy rằng khi con người thoát xác, chơn hồn phải đi qua một cửa ải đệ nhứt sợ, đó là chỗ để xét mình coi trong kiếp sanh có bao nhiêu phước tội. Cõi đó đối với người làm nhiều tội lỗi là cõi tối tăm khiếm khuyết ánh sáng Thiêng Liêng, một nơi để giải thần định trí.
Giải thần: tức nhiên là giải tán tà thần tức là những tư tưởng tà vạy của mình tồn đọng trong ký ức của chơn thần.
Định trí : là gom tư tưởng của mình lại để xét một vấn đề gì đó đừng cho phóng tâm hoặc là để không không chẳng nghĩ gì cả.
Bà còn dạy rằng:
"Chớ chi nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm Quang". Nghĩa là Cõi Âm Quang nầy sẽ hiện ra khi nào chúng ta sống không biết xét mình. Còn nếu chúng ta lúc sống biết xét mình tức nhiên là biết tránh điều tội lỗi thì Cõi Âm Quang sẽ không hiện ra.
Nói cách khác cõi Địa ngục không có đối với người không tội lỗi.
Vì vậy vấn đề Địa ngục có hay không sau khi chết là do chính mình tạo ra lúc còn sanh tiền. Hiền thì thăng, dữ thì đọa là lẽ tự nhiên.
Vậy âm quang là chỗ phạt tù những linh hồn hung ác mà cũng là một trạng thái sống với những dày vò, đau khổ bởi quả kiếp xấu mà mình đã gây ra trong khi còn sống. Còn nếu như mình biết thức tỉnh lo tu hành giải thoát thì tự nhiên trạng thái sống sau khi chết, vẫn tiếp tục thong dong gọi là nhẹ nhàng siêu thoát, đó là con đường dành cho những người sống biết tu hành đúng pháp và thành công. Cho nên trong kinh điển Cao Đài mô tả cả hai điều :
- Cảnh đọa đày nơi Địa ngục nay gọi là Cõi Âm Quang là có thật.
- Và một điều nữa là khi mở Đạo, Đức Chí Tôn đã ân xá tội lỗi cho chúng sanh.
Ngài đã làm thức tỉnh chơn thần của họ và hướng dẫn họ tu hành cho đắc Đạo thì tức nhiên đối với những người thành công trên đường tu, việc mở ra một nền Đạo có nghĩa là đóng địa ngục, đóng từ khi còn sống, không tạo ra tình trạng tối tăm tiếp nối sau khi chết, tức nhiên là "vô địa ngục, vô quỷ quan".
Trong bài kinh Thuyết Pháp câu chót là "Khai cơ giải thoát mở tù phong đô ".
Thuyết pháp nghĩa là giảng Đạo, giảng về chân lý cho mọi người hiểu được lẽ thật của cuộc đời mà lo tu hành. Dùng lời nói để thức tỉnh nhơn sanh có nghĩa là mở tù phong đô cho họ.
Tới đây chúng ta thấy khá rõ trong kinh điển Cao Đài nói về cõi Địa ngục không có gì là mâu thuẫn cả, nếu chúng ta hiểu được lý sâu của Đạo. Còn nếu như căn cứ vào từ ngữ chỗ nầy nói đóng Địa ngục mở tầng thiên, chỗ kia mô tả cảnh Địa ngục thế nầy,thế nầy...chúng ta sẽ thấy dường như có mâu thuẫn với nhau.
Không gian vật lý và không gian tâm lý, ấy là nói về phương diện kinh điển chánh truyền, còn về phương diện vật lý chúng ta thử đưa một ngón tay lên trước mặt, tại điểm đầu ngón tay của ta đó, tọa độ không gian vật lý ấy hiện tại có biết bao nhiêu làn sóng điện của các đài truyền thanh, truyền hình gởi đi trong không gian xuyên qua tọa độ đó. Mắt mình nhìn vào không thấy gì cả, nhưng mà chúng ta biết có những làn sóng điện ấy với kiến thức khoa học bây giờ. Tùy theo chúng ta chỉnh làn sóng máy thu thanh hay máy truyền hình của ta ở tầng số nào thì sẽ bắt gặp sự sinh hoạt của đài truyền thanh hay truyền hình đó.
Đối với không gian tâm lý cũng vậy nơi chúng ta đang ngồi đây cũng có đầy đủ những cõi giới từ Niết bàn đến Địa ngục. Thế giới đó con người gọi là vô hình, nhưng thực ra chứa đầy đủ các cõi giới tâm linh sinh hoạt khác nhau.
Vậy thì do nơi tâm lý sống của tâm linh mình mở ra ở loại nào mình sẽ giao cảm với loại sinh hoạt của tâm linh đó.
Mình hành thiện, tức nhiên mình sống với cõi tâm linh Thần Thánh, mình mở ra cõi giới giao cảm đó từ khi còn trong xác phàm nầy, tức nhiên sau khi chết chơn thần mình vẫn tiếp nối con đường đó thôi.
Nếu mình hành ác mình đã mở ra cõi giới tâm linh của ma quỷ thì sau khi thoát xác, chơn thần sẽ tiếp tục sống trong dày vò đau khổ gọi là đọa đày, đại khái là như vậy.
Vì vậy cõi Địa ngục vẫn có thường xuyên trong cõi không gian nầy. Cánh cửa mở để người ta đi vào cảnh giới đó là do không gian tâm lý mà trong buổi sanh tiền mình đã sống theo sinh hoạt loại nào.
Vì vậy chúng ta phải ý thức rằng quan niệm về Địa ngục là một nơi chốn mà cũng có nghĩa là một trạng thái của chơn thần.
Ảo hay thật.
Còn bây giờ nói về cảnh sinh hoạt trong kinh Sám Hối mô tả rất là ghê rợn để hành tội chơn thần con người ở cõi địa ngục, có thật hay không hay là những chuyện do tiền nhân đặt ra để cho người ta sợ mà không dám làm điều ác.
Những hình ảnh ấy có thật hay không hay chỉ là những điều đặt ra do trí tưởng tượng của con người.
Xin thưa.
Đó là những ảo giác, ảo tưởng, hồi niệm mà chơn thần con người tiếp tục sinh hoạt sau khi rời khỏi thân xác, nó chịu ảnh hưởng của nền văn hóa mà mình sống đã hấp thụ được. Những cảnh mô tả trong kinh Sám Hối là loại ảo tưởng, ảo giác mà một số linh hồn đã trãi qua thật, những linh hồn này đã chịu ảnh hưởng của nền văn hóa vùng Đông Nam Á hay nói rộng hơn là vùng Á Châu.
Tại sao như vậy?
Chẳng hạn trong kinh Sám Hối chúng ta thấy những hình ảnh đọa đày như trụ đồng, hình bào lạc, đốt lửa lên cho nóng rồi trói người vào đó xát chà.
Đó là những câu chuyện mô tả trong tiểu thuyết hoặc là sách vở của Trung Quốc kể lại chuyện Trụ Vương làm những điều tàn ác, bày ra những hình phạt để hành hạ con người.
Tất cả những hình ảnh ghê rợn khác nhau đó, đều có chung ý nghĩa là diễn tả cảm giác đau đớn mà con người phải chịu khi sống trong cảnh Địa ngục như là kết quả tất nhiên của một khoảng thời gian dài, mang xác phàm đã làm nhiều điều ác cho nguời khác, giờ đây phải gánh chịu sự đau đớn diễn tả bằng những hình ảnh đầy dẫy trong kinh Sám Hối, mình thấy như là mê tín dị đoan. Không phải mọi người đều bắt gặp hình ảnh như thế trong chơn thần đâu.
Nếu như một người suốt cuộc sống ở vùng sa mạc hoang vu đâu có biết con cua kình ra sao, đâu có cảm giác đau đớn khi bị nó kẹp vào da thịt mình, thành thử đối với những người sống ở vùng sa mạc không có ao hồ, sông nước thì cảnh cua kình rỉa thây mô tả trong kinh Sám Hối sẽ không bắt gặp trong chơn thần, dù người đó có làm điều ác. Họ sẽ gặp những hình ảnh khác có liên quan đến tư tưởng họ đã nghĩ tới trong sinh hoạt lúc sống. Còn một loại nữa là những hình ảnh, âm thanh, cảm giác mà chơn thần họ phóng ra một cách hỗn loạn chưa từng gặp trước đó nhưng cứ diễn đi diễn lại hoài. Những hình ảnh đọa đày nầy sẽ tan biến mất khi chơn thần định trí được.
Bát Nương Diêu Trì Cung đã nói. "Cõi Âm Quang là nơi giải thần định trí". Định trí được thì những ma ảnh tan biến hết, tức nhiên mình qua được một trạng thái sống tâm lý, vượt khỏi cõi lộn xộn có nghĩa là thăng tiến lên được một bước trên đường tấn hóa.
Vì vậy, khi mới mở Đạo được vài năm, có một số nhà trí thức ở miền Bắc chuyển lời đề nghị của họ, yêu cầu Tòa Thánh cắt bỏ bài kinh Sám Hối, bởi vì nó đầy dẫy mê tín dị đoan trong đó.
Hội Thánh không đồng ý xóa bỏ, dù vẫn biết rằng nó là những ảo tưởng, ảo giác, nhưng tình trạng đó nó diễn ra thật trong chơn thần của một số người và nó sẽ không có đối với người khác.

 


 8 
 vào lúc: Tháng Bảy 17, 2016, 09:58:31 PM 
Tác giả Admin - Bài mới nhất gửi bởi Admin
               VÔ THƯỜNG
   
Vô thường là thế nào?
Tất cả mọi sự vật trong thế gian đều luôn luôn biến chuyển, đổi thay, nay đây mai đó! Thời gian trôi qua thế nào, thì mọi vật cũng trôi qua như thế ấy, sự biến chuyển đổi thay ấy là Vô thường.
Vậy, Vô thường nghĩa là không thường, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, mà luôn luôn thay hình đổi dạng, đi từ trạng thái hình thành, đến biến đi rồi tan rã.
Những giai đoạn thay đổi của một vật là: Thành, Trụ, Hoại, Không hay sanh, trụ, dị, diệt, như một làn sóng, khi mới nhô lên, thì gọi là thành hay sanh, khi nhô lên cao nhất, thì gọi là trụ, khi hạ dần xuống, thì gọi là hoại hay dị, khi tan rã, thì gọi là không hay diệt.
Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát, cho đến lớn như các hành tinh, đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy cả, nên gọi là Vô thường.
Ðể có một ý niệm rõ ràng hơn về sự Vô thường, chúng ta hãy quan sát suy nghiệm ngay cái thân chúng ta, và hoàn cảnh chúng ta đang sống thì sẽ biết.
Thân Vô Thường.
Thân tôi mạnh khỏe và trẻ đẹp mãi, ấy là quan niệm của một số người, vì quá yêu chuộng thân thể họ trẻ mãi, hay nếu có già thì cũng còn lâu lắm, nhưng họ không ngờ rằng nó già nó chết, từng giây từng phút.
Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng, trong thân thể ta các tế bào thay đổi luôn. Sự thay đổi ấy làm cho thân thể ta chóng lớn, chóng già và chóng chết. Thân năm trước không phải thân năm nay, thân ban mai không phải thân buổi chiều, mỗi phút giây trong thân ta đều có sanh và có chết. Chúng ta thấy từ khi sanh cho đến khi chết, thân ta đã không biết bao lần thay đổi, và cái xác khi người ta dặt vào quan tài, thật không còn gì giống với cái thân khi mới sơ sanh.
Cũng như dòng nước hôm qua của con sông, ngó bề ngoài thì không khác gì dòng nước hôm nay, nhưng nước hôm qua, bây giờ có lẽ đã hòa với nước mặn ở ngoài Ðại dương, và nước hôm nay, chính là nước khác ở nguồn mới chảy về đây.
Thân người cũng vậy! Nhưng khổ thay, có phải nó thay một cái này để đổi lấy một cái khác, giống y như cái trước đâu! Một tế bào nầy mất đi, một tế bào khác thế lại, nhưng tế bào trước trẻ hơn tế bào sau, tế bào sau lại già hơn tế bào tiếp nối, và cứ như thế mà thân người đi từ trẻ đến già, từ sống đến chết.
Thân đã là Vô thường như thế, mà có lắm người vì muốn bồi bổ cung phụng xác thân, đến nỗi gây biết bao tội ác ghê ghớm.
Vì muốn được thích khẩu bổ thân, mà có những người đành tay giết hại những con vật yếu hèn, và hành hình những con vật vô tội trước khi chết một cách rùng rợn.
Ðọc lịch sử ta thấy những bậc Vua Chúa ngày xưa, ăn óc khỉ sống, ta đã cảm thông được nỗi đau đớn của những con vật khi bị giết, thế mà người dự tiệc vẫn vui cười, sung sướng, không đoái hoài vì đến tiếng rên xiết, kêu la, vùng vẫy của chúng, thì thật là tàn nhẩn. Vì lòng tham lam làm tối tăm lương tri, nên con người không thấy rõ được lý vô thường của thân xác, mới nỡ tâm làm điều tàn ác như thế.
Thật vậy, Trong bài Thuyết đạo Ðêm rằm tháng 2 năm Ðinh Hợi (1947) của Đức Hộ Pháp tại Ðền Thánh dạy như sau:
Nếu ta thấy được trên cõi Hư Linh kia, cái tinh của vạn loại bị giết chết một cách tàn nhẫn, bởi loài người kết oán thâm thù với nó, nó đang chực chờ thù ghét, vì vậy mà có vay trả luân hồi mãi mãi đọa đày, bất năng thoát tục. Mong sao chúng ta từ đây, phải biết trọng lấy lẽ ấy, mà tu luyện đệ nhị xác thân, cho đủ đầy sự tinh khiết, là phải thương loài vật, phải thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt ấy, mà truyền bá cái huờn thuốc Phục Sinh nầy, là đạo đức của Đức Chí Tôn, để cứu vớt quần sanh thoát vòng đọa lạc. Nếu cả thế gian nầy biết được vậy, thì chắc chắn không còn cảnh thảm khổ nầy tái diễn lại nữa.
Loài người đều có chung một nguyên căn mà thôi, bởi do tâm lý và tập quán của các nước, các sắc dân, vì cái khác ấy mà chia phôi nhau, nghịch lẫn nhau, thù địch nhau, mà tranh tranh đấu đấu không ngừng.
Tóm lại, con người vì không hiểu được sự vô thường nên mới cố bám víu chặt chẽ vào những sự vật mà mình đã cấu tạo nắm bắt được, chúng ta chỉ buông thả chúng ra, sau khi trút hơi thở cuối cùng. Nói cho đúng, không phải đến phút cuối cùng, chúng ta mới chịu buông thả mọi vật, chúng ta vẫn cứ muốn nắm giữ chúng mãi, nhưng chính chúng đã rời bỏ chúng ta mà đi.
Suốt đời chúng ta vẫn lặp đi lặp lại mãi, cái cử chỉ nắm bắt giữ gìn ấy, và suốt đời biết bao nhiêu lần, chúng ta đã đau khổ, thất vọng, vì mọi sự vật ở đời, không bao giờ chiều theo ý muốn của chúng ta, mà chịu ở yên một chỗ.
Thật thế, một đời của chúng ta, đã chứng kiến biết bao sự thăng trầm, vinh nhục, giàu nghèo, sang hèn, tiếp tục in ra trước mắt.
Bao nhiêu người trước đây, nào dinh thự nguy nga, nào ruộng vườn cò bay thẳng cánh, thế mà sau một cơn binh lửa, sự nghiệp bỗng tan tành như mây khói.
Bao nhiêu người quyền cao chức trọng, thế mà một phút sa cơ thất thế, bỗng trở thành những kẻ tha phương cầu thực, hay vướng cảnh tù đày.
Sự Vô thường đã sờ sờ trước mắt, thế mà có biết bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh ngộ, cứ đeo đuổi bám víu vào những cái hào nhoáng nhất thời ấy. Kẻ bán tước, người mua quan, kẻ tham danh, người ham lợi, gây biết bao trò cười cho khách bàng quan, và bày ra lắm cảnh nhọc nhằn cho người trong cuộc.
Có người nói rằng! Nếu nói tất cả đều vô thường, phải chăng vô tình gieo vào lòng mọi người, những quan niệm chán đời thối chí.  Vì sự vật đã vô thường, thì không nên làm gì cả, có siêng năng hoạt động, tạo nên sự nghiệp, rồi cũng không đi đến đâu cả. Tro bụi, con người sẽ trở thành tro bụi hay sao?            
Xin thưa! Nói lên sự Vô thường là để chỉ rõ mặt trái của cuộc đời, để đoạn trừ những sự mê lầm, lòng ham muốn, đồng thời ngăn chặn những người chạy theo vật dục, để rồi phải khổ đau, mà bị đọa lạc mãi trong bể khổ trầm luân.
Nói tóm lại, Vô thường là một định luật chi phối tất cả sự vật, từ bản thân cho đến mọi hoàn cảnh. Biết được vô thường, ta sẽ giữ được bình tỉnh thản nhiên, trước cảnh đổi thay bất ngờ, hay trước cảnh ân ái chia ly, biết được vô thường, chúng ta mới dám hy sinh tài sản bản thân để phục vụ cho tha nhân, biết được vô thường, chúng ta mới không còn mê luyến với những thú vui tạm bợ, giả trá, để rồi phải đau khổ vì chúng.
Thật ra, cái bản tánh chơn thật, sáng suốt, vẫn luôn ở trong chúng ta, nhưng nó nằm bên trong cái lớp giả dối, tạm bợ vô thường của cõi đời nầy, nên chúng ta không thể thấy được. Khi chúng ta cương quyết gạt bỏ cái vỏ giả dối ấy, tức thì chúng sẽ hiện ra, lúc đó chúng ta mới thấy và hiểu được cái hạnh phúc chân chính, cái giá trị đích thực  của con người ở trên cỏi đời này.

CTS Hà Vũ Băng
   
   

 9 
 vào lúc: Tháng Bảy 17, 2016, 09:53:04 PM 
Tác giả Admin - Bài mới nhất gửi bởi Admin
               THƯƠNG YÊU.
   
Thánh Ngôn Đức Chí Tôn dạy:
Chúng ta phải Thương Yêu, vì Sự Thương Yêu là chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh, Cực Lạc Thế Giới.
Vậy, chúng ta phải hiểu nên thương yêu như thế nào?
Trong đời hay trong các học thuyết cũng thường nói đến tình thương yêu, lòng bác ái. Nhưng những danh từ nầy chứa đựng một nội dung hẹp hòi, có khi đó chỉ là tình yêu thương vợ con, gia đình quyến thuộc, bạn bè, rộng hơn thì ra đến quốc gia, chủng tộc là nhiều.
Chữ Thương Yêu mà Đức Chí Tôn dạy không có phạm vi, nó bao la vô tận, nó lan từ gia đình, xã hội, chủng tộc, nhân loại ra đến toàn thể chúng sanh. Nó không có thân sơ, bạn thù, xa gần, mạnh yếu. Lòng Thương Yêu rất bình đẳng, không có cao hạ, gần xa, nặng nhẹ.
Như đã trình bày ở phần trên, Tình Thương yêu mà Đức Chí Tôn dạy không những bao la, bình đẳng, mà cần phải sáng suốt. Lòng thương ở ngoài đời có nhiều khi rất mù quáng. Khi thương thì trái ấu cũng tròn, khi ghét thì bồ hòn cũng méo. Thương thì xấu cũng thành tốt, ghét thì tốt cũng hóa xấu, nhất là tình yêu, lại càng mù quáng hơn. Trong báo chí, không ngày nào là không có năm ba vụ giết chết nhau vì tình yêu, tình yêu và thù oán đi song song nhau.
Tình yêu thương giữa đời sở dĩ mù quáng như thế, là vì nó xuất phát từ thất tình lục dục, là vì nó dựa lên tình thương mình, lên cái ngã.
Sự Thương Yêu mà Đức Chí Tôn dạy không dựa lên cái ngã hẹp hòi. Do đó, sự Thương Yêu đó rất sáng suốt, tình Thương có trí huệ soi sáng, nhận thấy được rằng toàn thể là mình, mình là toàn thể, chúng sanh mặc dù chia ra làm tám đẳng cấp trong Bát Hồn, nhưng tựu trung vẫn đồng một bản thể như nhau, cho nên Đức Chí Tôn bảo phải thương yêu nhau là thế.
Nhưng tại sao chúng ta không thể thương yêu được?
Bởi gì, trong tâm của chúng ta đã chứa đầy những cỏ dại của phiền não, khổ đau, của nghi ngờ, lo âu và sợ hãi. Vì thế mà nó không còn một chỗ trống nào để cho hạt giống yêu thương mọc nữa.
Nhưng tại sao tâm chúng ta lại chứa đầy phiền não và khổ đau như thế ?
Đó là gì tâm chúng ta thường quá bận rộn và suy nghĩ, nghĩ chuyện quá khứ, nghĩ chuyện tương lai, mà quên cuộc sống trong hiện tại.
Khi chúng ta suy nghĩ và sống lại quá khứ đau buồn, nó làm cho chúng ta hối tiếc, cảm thấy tội lỗi, buồn gì chúng ta không ai có thể thay đổi quá khứ được, vì điều đó đã xảy ra rồi, đã xong rồi, và khi chúng ta suy nghĩ về một tương lai mù mịt không biết sẽ ra sau, nó sẽ làm cho chúng ta phải lo âu, sợ hãi. Vì thế, hai nơi quá khứ và tương lai, chúng là nguyên nhân tạo ra đau khổ cho chúng ta.
Chúng ta cũng nên hiểu rằng tất cả mọi vật được sinh ra, chỉ tồn tại một thời gian, rồi thoái hóa, hư hỏng và mất đi, trong đó có cả loài người. Vì không hiểu được chân lý này, nên chúng ta muốn có cuộc sống vui vẽ mãi, trẻ mãi không già, khỏe hoài không bệnh, sống hoài không chết. Khi bệnh xảy ra, cái già nó đến, cái chết cận kề thì trong tâm ta đầy những lo âu và phiền não.
Khi đã hiểu được chân lý này rồi, trước hết chúng ta hãy làm sạch đi những cỏ dại, phiền não trong tâm mình, khi cỏ dại phiền não không còn nữa, thì lúc đó hạt giống yêu thương có sẳn trong tâm sẽ đâm chồi, nẩy lộc, đơm hoa kết trái, khi đó chúng ta sẽ trở thành một con người mới, một con người  đầy lòng yêu thương và có một đời sống vui vẽ hạnh phúc hoàn toàn.
Nhưng chúng ta phải nhớ, bất cứ điều gì chúng ta muốn làm, muốn tạo ra, muốn thay đổi, chúng ta chỉ làm được ở hiện tại mà thôi, nghĩa là ngay bây giờ, chúng ta hãy đoạn tuyệt với quá khứ đang ẩn tàng trong ký ức, bản ngã, và cũng đừng mơ màng tới một tương lai xa vời. Vì chính cái hiện tại là cái thực tại, vì chỉ tại nơi đó mới hoàn thiện được cuộc sống.   
Nói tóm lại, Tình Thương yêu là nguồn gốc của muôn việc lành, những hành động tốt đẹp đều do tình thương mà ra cả. Trước hết, vì thương yêu nên ta bố thí, do bố thí mà ta dứt được lòng tham lam, bỏn xẻn, vì thương yêu  nên ta mới giữ giới, do giữ giới mà ta không sát sanh hại vật, vì thương yêu nên ta mới nhẫn nhục, nhờ nhẫn nhục mà ta dập tắt được tánh nóng giận, thù hằn. Nhờ thương yêu mà muôn vật đỡ bị sát hại, đau đớn, nhờ thương yêu mà nhân loại bớt chiến tranh, loài người bớt thù oán, nhờ thương yêu mà người nghèo bớt đói lạnh, người giàu bớt tham lam và nhờ có Thương Yêu mà Thế Giới nầy bớt tiếng than khóc, bể sâu vơi nước mắt, nụ cười nở lại trên môi.

CTS Hà Vũ Băng

                  



 10 
 vào lúc: Tháng Bảy 17, 2016, 09:49:57 PM 
Tác giả Admin - Bài mới nhất gửi bởi Admin
Thưa quí thính giả cùng đồng đạo, trong chương trình phát thanh hôm nay chúng tôi xin trình bày bài giáo lý với đề tài: Đức Chí Tôn Khai  Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Trước khi tìm hiểu về nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ?
Chúng tôi xin được trích dẫn một đoạn trong lời tựa quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển do Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh phát hành ngày 21 tháng 10 năm Đinh Mão như sau:
Cuối Hạ Ngươn nầy, nhơn loại phần nhiều dụng hết trí não tinh thần xu hướng vào lối văn minh vật chất, món ăn đủ sơn trân hải vị, chỗ ở lại nguy nga đài các, y phục tiện dùng gấm nhiễu che thân, ra một tấc đường thì có ngựa xe đỡ gót.
Cái lạc thú hiện thời trên cõi tạm nầy, làm cho con người mê mẩn, rồi đua chen nhau tranh giành phúc lộc, lăng xăng xạo xự trên chốn võ đài, mạnh đặng, yếu thua khôn còn, dại mất. Phần đông bực thông minh, lại đem trí khôn làm món binh khí hại người, kẻ tước trọng lại dùng thế quyền mà đè ép dân đen ra bạc trắng, quanh năm chỉ lo cho xác thân hưởng điều khoái lạc, vợ ấm con no, được ngày nào vui ngày ấy, cho kiếp chết là kiếp mất, gọi Thiên đường, Ðịa ngục là câu chuyện hoang đàng, bậu bạn lỗi câu tín nghĩa, vợ chồng quên đạo tào  khương, mảng vụ chữ kim thời mà phong dời tục đổi.
Than ôi! Lượng sóng văn minh tràn dập tới đâu thì nền luân lý ngửa nghiêng tới đó. Nếu Ðạo Trời không sớm mở lần ba, nền phong hóa mối cang thường, vì đó mà hư hoại. ( hết lời dẫn )
Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế vì lòng Ðại từ Ðại bi, không nỡ ngồi nhìn nhơn sanh sa vào nơi tội lỗi, mà phải bị mạt kiếp  chốn A tỳ. Ngài mới hội Tam giáo Công Đồng, hiệp các Ðấng Phật, Tiên, Thánh, Thần khai mối đạo lần ba tức Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ hay còn gọi là Ðạo Cao Ðài, hầu cứu độ nhơn sanh thoát đọa luân hồi, Qui hồi cựu vị.  
Để giới thiệu một nền tân tôn giáo được khai sáng tại VN năm 1926, Ngài Tiếp PhápTrương văn Tràng trong quyển Giáo Lý đã viết như sau:
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay còn gọi là Đạo Cao Đài, là một nền tân Tôn Giáo được Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ khai mở lần thứ ba vào ngày rằm tháng 10 năm Bính Dần 1926 tại Tây Ninh, miền nam Việt Nam.
Tại sao lại gọi là lần thứ ba?
Theo lẽ thường, phàm việc chi đã có lần thứ ba, tất nhiên trước kia đã có lần thứ nhứt và lần thứ hai. Thì Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một nền Đạo khai lần thứ ba, tất nhiên trước kia đã có Đại Đạo Nhứt Kỳ và Đại Đạo Nhị Kỳ Phộ Độ rồi. Xin kể sơ lượt hai lần trước, rồi sau sẽ bàn đến Đại Đạo lần thứ ba.       
Đại Đạo Nhứt Kỳ Phổ Độ ( Thượng Cổ Thời Đại )                  
Đức Nhiên Đăng Cổ Phật khai Phật Giáo.                   
Đức Hồng Quân Lão Tổ khai Tiên Giáo                     
Đức Văn Tuyên Đế Quân khai Nho Giáo                  
Đại Đạo Nhị Kỳ Phổ Độ ( Trung Cổ Thời Đại )                     
Đức Thích Ca chấn hưng Phật Giáo.                        
Đức Lão Tử chấn hưng Đạo Giáo.                        
Đức Khổng Phu Tử chấn hưng Nho Giáo.
Ngoài Tam Giáo ra, lại có Đức Jésus Christ lập Thánh Đạo bên Thái Tây.    
Đức Khương Tử Nha chủ trương Thần Đạo tại Trung Hoa.
Trung cổ thời đại là thời kỳ văn minh, đạo đức cực thạnh, Giáo Pháp Hoằng Khai, cũng gọi đó là thời kỳ Ngũ Chi Đại Đạo phổ biến.
Thế đã rõ Đại Đạo khai hai lần trước.
Bây giờ xin bàn đến Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một nền Đạo lớn, khai lần thứ ba, để cứu rỗi chúng sanh một cách rộng rãi, tức là Phổ Độ tất cả nhơn sanh, không phân biệt màu da sắc tóc, không phân biệt tôn giáo dị đồng, hoặc nói trắng ra là đứng trước Đức Thượng Đế, cả chúng sanh đều là con một Cha, đều được Đại Từ Phụ cứu rỗi như nhau.
DANH HIỆU GIÁO CHỦ ĐẠI ĐẠO.
Ngày xưa khi khai Đạo, Đức Chí Tôn hoặc phân tánh giáng phàm, hoặc cho một vị Tiên, hay một vị Phật xuống thế lập Đạo. Ngày nay Đức Ngài không mượn phàm thể nữa, mà chính mình Ngài dùng huyền diệu cơ bút để lập Đạo và truyền giáo.       
Ấy vậy, cho nên Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là Đấng Thiêng Liêng. Ngài là Đấng chủ tể Càn Khôn Thế Giới. Nhưng Ngài không xưng danh là "Ngọc Hoàng Thượng Đế " mà lại mượn tên là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”. Thánh danh ấy có ý nghĩa là qui nguyên Tam Giáo, hiệp nhứt Ngũ Chi lập thành một  giáo lý Đại Đồng, với ý nghĩa như sau:
CAO ĐÀI: chỉ về Nho giáo, nghĩa là cái đài cao rất mực ( Thái Cực ) ngôi của Đấng Chúa Tể cả Càn Khôn Thế Giới, mà Nho giáo sùng bái dưới danh hiệu là Thượng Đế.   
TIÊN ÔNG: chỉ một vị Đại giác Kim Tiên trong Đạo giáo         
ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT chỉ về một vị Phật trong Thích giáo.
Vậy với danh xưng: Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát đủ chỉ rõ sự Qui Nguyên Tam Giáo.
Tam Giáo Qui Nguyên - Ngũ Chi Phục Nhứt
Tại sao lại Qui nguyên Tam giáo Hiệp nhứt Ngũ chi?
Thánh Ngôn Đức Chí Tôn dạy như sau:“Vốn từ trước, Thầy lập Ngũ Chi Đại Đạo là:
Nhơn Đạo
Thần Đạo
Thánh Đạo
Tiên Đạo
Phật Đạo.
Tùy theo phong hóa của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn Vô Đắc Khán (không thấy được Trời), Khôn Vô Đắc Duyệt (không biết hết được Đất) thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương của mình mà thôi. Còn nay, thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn Dĩ Tận Thức  (nghĩa là đã hiểu được Trời Đất) thì bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại mới nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định Qui Nguyên, Phục Nhứt.”
Đức Hộ Pháp dạy về Tam Giáo và Ngũ Chi như sau:
Ai sanh dưới thế nầy cũng phải giữ đủ Tôn chỉ của ba Đạo: là Nhơn đạo, Tiên đạo, Phật đạo, mới làm đặng hoàn toàn phận sự của con người. Ngày nay nhân loại đã tấn hóa cao, đã có một xã hội văn minh khoa học vật chất cực thịnh, nhưng càng văn minh khoa học, con người lại xa dần thánh đức tàn sát lẫn nhau, muốn cho nền văn minh nhân loại được hoàn hảo, cả vật chất lẫn tinh thần, thì con người phải tuân thủ theo ba tôn chỉ đó: là Nhơn đạo, Tiên đạo, Phật đạo.
Con người phải tùng theo Nhơn đạo, tu luyện bản thân giữ gìn nhơn phẩm, để có một đời sống thanh cao, một gia đình thuận hòa.
Trong khi con người phải làm tròn Nhơn đạo, thì đồng thời cũng phải theo Tiên đạo phải tu luyện Tinh, Khí, Thần, để được thông minh sáng suốt, hầu nâng cao kiến thức, phát triễn khoa học kỷ thuật nhằm phục vụ cho đời sống con người, cho con người trở nên văn minh tiến bộ, đó là tôn chỉ của Tiên đạo.
Trong khi con người lo phát triển khoa học kỷ thuật, kiến tạo một xã hội văn minh, thì cũng phải tùng theo tôn chỉ của Phật đạo là từ bi bác ái, là chỉ dùng khoa học kỷ thuật để phục vụ cho đời sống vật chất lẫn tinh thần, của cá nhân cũng như cộng đồng, chứ không nên dùng khoa học kỷ thuật ấy trở lại hại nhơn sanh.
Ngũ Chi Phục Nhứt!   
Thầy hiệp Ngũ chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác nào một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị mình, hể ngồi đặng ở phẩm vị nào, thì địa vị mình ở nơi ấy.      
Ngũ chi có Năm cấp, lấy trần gian làm cơ sở, lấy sinh hoạt của con người làm đối tượng, lấy cảnh khổ của trường đời, và sự thương yêu sanh chúng để làm bài học và khoa mục khảo thí.
Bài học khổ hạnh thương đời yêu người nầy, tùy theo sự tu học của con người  mà có cách ứng dụng khác nhau.
Phật, vì thương đời mà tìm cơ giải khổ.
Tiên, vì thương đời mà bày cơ thoát khổ.
Thánh, vì thương đời mà dạy cơ thọ khổ.
Thần, vì thương đời mà lập cơ thắng khổ.
Hiền, vì thương đời mà đạt cơ tùng khổ.
Chữ khổ là đề mục của khoa học trên trường đời, mà phẩm vị Hiền, Thần, Thánh, Tiên, Phật, là ngôi vị của trang đắc cử.
Tóm lại, Đức Chí Tôn Qui Tam Giáo thành một học lý, còn hiệp nhứt Ngũ Chi là chỉ vào sự thực hành.
Khi mới nhập môn thì thể hiện Nhơn Đạo, rồi tiến lên Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo.
Nói tóm lại, Đức Chí Tôn Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, với tôn chỉ Tam giáo Qui nguyên Ngũ chi Hiệp nhứt, để cứu rỗi tất cả nhơn sanh trên địa cấu này, không phân biệt màu da sắc tóc, không phân biệt tôn giáo dị đồng, vì trước Đức Thượng Đế, cả chúng sanh đều là con một Cha, đều được Đại Từ Phụ cứu rỗi như nhau.
Đồng thời Đức Thượng Đế cũng cho nhân loại biết rằng, ngày xưa họ giao cảm với Ngài, gián tiếp qua các Sứ giả của Ngài, ngày nay Ngài xác nhận rằng: Chính Ngài đã đến thế gian như các tiên khải lưu truyền trước đây, để lập một trường công đức cho con cái của Ngài tu học.
Trường công đức nầy là mái nhà chung đó là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để hợp nhất con cái của Ngài.
Nên Ngài  khẳng định rằng:   
Thầy đến độ rỗi các con là lập thành một trường công đức cho các con nên đạo, vậy đắc đạo cùng chăng là tại các con muốn cùng chẳng muốn, Thầy nói cho các con nghe! Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình, thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.   
Dù có thương xót con cái của Ngài bao nhiêu đi nữa, thì vì lẽ công bình, Thượng Đế cũng để cho con người có quyền tự do quyết định chọn lựa con đưòng thăng tiến của mình, nếu không nghe lời thì đành phải gánh chịu sự sa đọa mà thôi.
Thi!
Chín Trời mười Phật cũng là Ta!
Truyền Đạo chia ra nhánh nhóc ba.
Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ!
Thánh, Tiên, Phật Đạo vốn như nhà.

CTS Hà Vũ Băng



Trang: [1] 2 3 ... 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.2 | SMF © 2006, Simple Machines LLC

Design & Content © Qui Nguyên - Châu Ðạo California
Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM