*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Hay bạn đã đăng ký nhưng quên mất email kích hoạt tài khoản?
Tháng Mười 31, 2014, 06:57:01 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: [1]
  In  
Tác giả Chủ đề: Ý NGHĨA VỀ SỰ THỜ PHƯỢNG CỦA ĐẠO CAO ĐÀI TẠI TƯ GIA  (Đọc 6440 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Admin
Administrator
Newbie
*****
Offline Offline

Bài viết: 37


« vào lúc: Tháng Một 08, 2009, 05:23:02 PM »

     Ý NGHĨA VỀ SỰ THỜ PHƯỢNG CỦA ĐẠO CAO ĐÀI TẠI TƯ GIA                         

                                                                                             MINH BẰNG

   Người tín đồ Cao Đài Thờ Thượng tại tư gia Đế bằng Thánh Tượng Thiên Nhãn có hình Tam Giáo, Tam Trấn và Ngũ Chi.
   Trên Thánh Tượng, ở trên hết là Thiên Nhãn , kế đến hàng ngang là Tam Giáo, hàng dưới là Tam Trấn, hàng dọc xuống là Ngũ Chi.
 
    Ý Nghĩa về Thiên Nhãn:
   Tại sao Đức Chí Tôn dạy vẽ Thiên Nhãn   mà Thờ Thầy? Ta hãy nghe Đức Chí Tôn dạy Trong Đàn Cơ ngày 26- 02-1926 như sau: Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng “Con Mắt” mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh
   Nhãn thị chủ Tâm
   Lưỡng quang chủ Tể,
   Quang thị Thần,
   Thần thị Thiên
   Thiên giả ngã giã.
   Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm, từ ngày Đạo bị bế. Lập  “Tam Kỳ Phổ Độ” duy Thầy cho “ Thần” hiệp cùng “Tinh Khí” đặng hiệp đủ “ Tam Bửu” là cơ mầu nhiệm Siêu Phàm Nhập Thánh.
   Phẩm vị Thần, Thánh,Tiên, Phật từ ngày Đạo bị bế, thì luật lệ hãy còn nguyên, luyện Pháp chẳng đổi, song Thiên Đình mỗi phen đánh tản “Thần” không cho hiệp cùng “ Tinh Khí”.
   Thầy đến đặng hườn nguyên “ chơn Thần” cho các con đắc Đạo. Con hiểu “ Thần cư tại Nhãn”. Bố trí cho chư Đạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên, Phật do yếu nhiệm là tại đó. Thầy khuyên các con mỗi khi nói Đạo hằng nhớ đến danh Thầy.
   Ngoài ra: Ý nghĩa thờ Thiên Nhãn, Đức Chí Tôn còn dạy thêm:
   Tại sao lại dạy thờ Thiên Nhãn?
   Thiên Nhãn là căn bản chúng sanh.
   Đó là một Đấng trọn lành.
   Một Ngôi Thượng Đế hóa sanh muôn loài.
   Trong các Đấng các loài do đó.
   Mà ngày nay mới có tại đây.
   Hạ ngươn máy tạo dần xoay.
   Nên chi Từ Phụ dựng gầy cơ quan.
   Biết tu sớm hội bàn lập vị.
   Trước dạy rồi Nhãn Thị Chủ Tâm.
   Tâm là Chủ Tể cao thâm.
   Hoằng minh chánh đại muôn năm vững vàng.
   Hoặc là:    
   Đời hằng nói Trời cao có Mắt.
   Sách thường biên Thái Nhứt vô hình
   Mênh mông đồ sộ rộng thinh.
   Mà soi xét đủ tình hình thế gian.
            ( Đại Thừa Chơn Giáo )
   Tại sao Thầy dạy tạc ra Thiên Nhãn mà thờ Thầy: Mà không dạy thờ hình tượng như các Tôn giáo khác? Các con phải biết rằng:
   Trời là lý, mà Lý ấy rất Thông Linh, bao quát cả Càn Khôn Thế Giới . Thầy đâu phải xác phàm như các con, có hình thể như các con, nên chi thờ Thiên Nhãn là thờ Thầy.
   Tam Giáo và Ngũ Chi:
   Tam Giáo:
   Giữa Đức Thích Ca.   
   Tả có Đức Khổng Phu Tử
   Hữu có Đức Lão Tử.
   Đó là ba vị Giáo Chủ Thích, Đạo, Nho.
   Tam Trấn:   
   Đức Lý Thái Bạch là Nhứt Trấn Oai Nghiêm.
   Đức Quan Âm là Nhị Trấn Oai Nghiêm.
   Đức Quan Thánh Đế Quân là Tam Trấn Oai Nghiêm.
   Ba vi Đại diện của Tam Giáo trong cơ Phổ Đổ Kỳ Ba.
   Ngũ Chi:
   Ngôi Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư tượng trưng cho Nhơn Đạo.
   Đức Khương Thượng tượng trưng cho Thần Đạo.    
   Đức Jésus Christ tượng trưng cho Thánh Đạo.
   Đức Lý Thái Bạch tượng trưng cho Tiên Đạo.
   Đức Thích Ca tượng trưng cho Phật Đạo.
Tam Giáo và Ngũ Chi là biểu tượng Tam Giáo Qui Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt
Để hiểu rõ thêm về thánh tượng Tam Giáo và Ngũ Chi, có nhiều tín đồ hỏi:
Tại sao trên Thánh Tượng Ngôi Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư là Ngôi Nhơn Đạo mà lại ở phía trước các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật và cả Đức Chí Tôn.
Để trả lời câu hỏi nầy, chúng ta hãy nghe Đức Chí Tôn giảng trong Đàn Cơ  ngày 24-10-1926 như sau:   
   Thầy lập Phật Giáo vừa khi Khai Thiên lập Địa, nên Phật Giáo là trước, kế Tiên Giáo rồi mới tới Nho Giáo. Nay là Hạ Ngươn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền chi hậu. Tỉ như lập Tam Giáo thì:
   Nho là trước.
   Lão là giữa.
   Thích là chót.
   Nên Thầy phải ngồi sau Phật, Thánh, Thần, mà đưa chúng nó lại Vô Vi Chi Khí chính là Niết Bàn đó vậy.
   Dưới Tượng Tam Giáo có đặt một Thiên Bàn trên hết có chong một Ngọn đèn luôn được thắp sáng. Ngọn đèn ấy gọi là “Thái Cực Đăng” hay là “ Tâm Đăng”.   
   Bên Tả Thái Cực Đăng để một Bình Hoa, bên hữu để một Dĩa Quả, phía trước Thái Cực Đăng để ba chung rượu, bên tả để một chung nước Trắng, bên hữu để một chung nước Trà.Dưới đó ngay chính giữa đặt một Lư Hương. Hai bên Lư Hương có để hai cây đèn, mỗi khi cúng thì thắp sáng lên.
   Ý nghĩa về Thiên Bàn:
Trước khi tìm hiểu về Thiên Bàn chúng ta hãy đọc trong Thánh Giáo Đức Chí Tôn dạy như sau:   
   Tôn chỉ Đạo Cao Đài tỏ rõ.    
   Mượn hữu hình bày tỏ chỗ vô.    
   Thiên Bàn làm tấm bản đồ.   
   Coi ngoài mà biết điểm tô trong mình.
   Tuy làsự giả hình sắp đặt.
   Trái xem sao thì mặt cũng in.    
   Người tu phải biết giữ gìn.
   Chuẩn thằng qui cũ mà tìm Thiên cơ.
            ( Đại Thừa Chơn Giáo )
   Căn cứ vào những lời dạy trên, chúng ta có thể hiểu về Thiên Bàn vô cùng vi diệu. Nhưng dựa vào dịch lý có thể hiểu cách trưng bày những lễ phẩm trên Thiên Bàn theo hình đồ Lạc Thư, mà cũng là Hậu Thiên Bát Quái đồ, đây cũng là Bí Pháp mà Đức Chí Tôn bày ra để dạy con cái của Ngài nương theo đó tu luyện mà trở về với Ngài.
   Đèn Thái Cực.   
Giữa Thiên Bàn trên hết là đèn Thái Cực, đèn phải thắp sáng luôn luôn, Ngọn đèn ấy gọi là “Thái Cực Đăng” hay  “Tâm Đăng” là biểu tượng cho cái Tâm  của Vũ Trụ. Ngọn đèn nầy soi sáng khắp cả Càn Khôn Vũ Trụ, không lay, không chuyển, Vạn loại nhờ đó mà sinh ra, nhờ đó mà an vui. Trời Đất nhờ đó mà Quang Minh, Trường Cửu. Người Tu hành nhờ đó mà tạo Phật tác Tiên, Siêu Phàm Nhập Thánh.
   Hai ly nước.
Ly nước Trà tượng trưng cho Âm, ly nước Trắng tượng trưng cho Dương.
   Mỗi khi cúng rót vào mỗi ly tám phân nước trắng và nước trà nghĩa là tám lượng Chơn Âm, tám lượng Chơn Dương, cộng lại là mười sáu lượng, hay là còn gọi là một cân.
   Có câu:   
   Lấy lửa cung Ly nấu vàng cung Khảm.
Lọc Âm Dương hai tám thành cân.
Trong phép Tu Đơn người Tu phải luyện cho Thủy Hỏa Ký Tế, mà muốn cho Thủy Hỏa Ký Tế phải có đủ tám lượng Chơn Âm, tám lượng Chơn Dương khi đó Tinh, Khí, Thần mới hiệp nhất, Khảm, Ly mới trở lại Khôn, Càn, Hậu Thiên mới trở về với Tiên Thiên mà Siêu Phàm Nhập Thánh.
Ba ly rượu.
Ba ly rượu mỗi khi cúng rót vào mỗi ly ba phân, ba ly cộng lại là chín phân. Số ba là con số “Qui Nguyên” , còn số chín là con số “Cửu Thiên Khai Hóa”
Hai cây đèn.
Hai cây đèn tượng trưng cho Nhựt, Nguyệt, trong Bát Quái Hậu Thiên là hai quẽ Khảm và Ly. nói rõ thêm hai chén nước Trà và nước Trắng là Âm Dương tức Lưỡng Nghi của Tiên Thiên, còn hai cây đèn Ly Khảm tức Âm  Dương của Hậu Thiên.
    Lư Hương.
Trên Lư Hương, mỗi khi cúng đốt năm cây nhang, ba cây hàng ngang bên trong, hai cây bên ngoài.
Khi cắm ba cây nhang bên trong vào Lư Hương, cắm cây ở giữa trước gọi là Phật, cắm cây thứ hai bên trái gọi là Pháp, cắm cây thứ ba bên phải gọi là Tăng.   
Ba cây nhang bên trong gọi là “Án Tam Tài” . Hai cây nhang bên ngoài gọi là “Tượng Ngũ Khí”
Tam Tài tức Thiên, Địa, Nhân, Trời có ba báu là: Nhựt, Nguyệt, Tinh, Đất có ba báu là: Thủy, Hỏa, Phong. Người có ba báu là : Tinh, Khí, Thần.
Trời nhờ ba báu đó dưởng dục muôn loài, hóa sanh vạn vật, vận chuyển Càn Khôn, chia ra ngày đêm sáng tối.    
Đất nhờ ba báu đó mà phong võ điều hòa, cỏ cây tươi nhuận, phân ra thời tiết: Xuân, Hạ, Thu, Đông.    
Người nhờ ba báu đó mà tạo Tiên , tác Phật.
như thế chúng ta thấy, con người đứng vào bực Tam Tài ngang bằng Trời Đất. Vì con người là Tiểu Vũ Trụ.
Tượng Ngũ Khí tức là: Ngũ Khí Triều Ngươn, Tam Huê tụ Đỉnh. Sao là Ngũ Khí Triều Ngươn, Tam Huê tụ Đỉnh?.
Trời có Tiên Thiên Ngũ Khí, Hậu Thiên Ngũ hành, Đất có Ngũ phương, Người có Ngũ tạng.
Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Ngũ Phương là: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung Ương.
Ngũ Tạng là: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận.
Ngũ hành đối với Ngũ Phương và Ngũ Tạng như sau: 
Ngũ hành Kim Ngũ phương là Tây phương Ngũ tạng là Phế
Ngũ hành Mộc Ngũ phương là Đông phương Ngũ tạng là Can.
Ngũ hành Thủy Ngũ phương là Bắc phương Ngũ tạng là Thận.
Ngũ hành Hỏa Ngũ phương là Nam phương Ngũ tạng là Tâm.
Ngũ hành Thổ Ngũ phương là Trung phương Ngũ tạng là Tỳ.
Người luyên Đơn trước phải hiểu được Ngũ hành sinh khắc rồi sau đó mới nghịch chuyển cho Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hiệp một gọi là Tứ Tổ Qui Gia mà qui về hành Thổ Trung ương khi đó Ngũ hành sẽ biến thành Ngũ Khí.
Khi Ngũ Khí Triều Ngươn, thì Tam huê mới Tụ Đỉnh, Tinh, Khí, Thần mới hiệp nhứt mà xung lên Huyền quan nhứt khiếu, tức Nê Hườn Cung hay là Thiên Môn mà siêu xuất về cỏi Thiên Liêng Hằng sống .
Ngoài ra trên Thiên Bàn hoa còn tượng trưng cho Tinh, rượu tượng trưng cho Khí, trà tượng trưng cho Thần đó là Tam Bửu.
Để nói rõ hơn, Đức Chí Tôn dạy lập Thánh Tượng Thiên Nhãn có hình Tam Giáo và Ngũ Chi mà thờ là:   
Đức Chí Tôn muốn nói cho nhân loại biết Ngài là Chủ Cả Càn Khôn Thế Giái, tất cả các Tôn giáo điều do Ngài khai mở, nay Hạ Ngươn hầu mãn, Ngài đến thế gian nầy để qui nguyên Tam Giáo, hiệp nhứt Ngũ Chi.
Ngài dạy lập Thiên Bàn là Ngài bày Bí Pháp để dạy cho con cái Ngài nương theo mà Tu luyện để được trở về cùng Ngài.

   

   
   


 


« Sửa lần cuối: Tháng Năm 28, 2011, 12:14:12 PM gửi bởi Admin » Logged
Trang: [1]
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.2 | SMF © 2006, Simple Machines LLC

Design & Content © Qui Nguyên - Châu Ðạo California
Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM